Nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Đoàn Hồ Điệp, Trần Ngọc Phương Thảo, Hoàng Đạo Bảo Trâm

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và mức độ nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi, có sức khỏe toàn thân và răng miệng tốt và có nhu cầu điều trị tẩy trắng răng. Tình trạng nhạy cảm ngà răng được đánh giá trong điều kiện không kích thích và có kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh, trên các răng trước hàm trên, theo thang đánh giá 4 mức độ (0 - 3). 100% bệnh nhân không nhạy cảm ngà trong điều kiện không kích thích; tỷ lệ bệnh nhân có nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh là 47%, trong đó 2% do kích thích luồng hơi và 45% do kích thích lạnh; tất cả các trường hợp nhạy cảm đều ở mức độ nhẹ (mức độ 1); răng cửa có tỷ lệ nhạy cảm ngà cao hơn răng nanh, khác biệt có ý nghĩa; không có khác biệt về tỷ lệ và mức độ nhạy cảm giữa bên phải và bên trái; tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nữ cao hơn ở nam, khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Xem chi tiết

Nhạy cảm ngà răng ở cán bộ công ty Than Thống nhất tỉnh Quảng Ninh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Tống Minh Sơn

Nhạy cảm ngà răng thường gặp và có liên quan đến các bệnh nhân. Các nghiên cứu đã được công bố cho kết quả về tỷ lệ nhạy cảm ngà răng rất khác nhau. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ nhạy cảm ngà răng của công nhân đang làm việc tại mỏ than Quảng Ninh. Kỹ thuật để đánh giá nhạy cảm ngà răng là thổi hơi. Sự phản ứng của người được khám với kích thích hơi được đo bằng hệ thống chia độ Schiff. Tỷ lệ nhạy cảm ngà là 9,07%. Tổn thương tổ chức cứng ở vùng cổ răng là tổn thương chủ yếu của nhạy cảm ngà răng.

Xem chi tiết

Kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã của cha mẹ có con học tại trường Mầm Non La Ngà, Định Quán, Đồng Nai tháng 4 năm 2009

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Trà My, Đỗ Văn Dũng

Ngã là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tai nạn thương tích, dẫn đến tử vong ở trẻ em trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ tử vong do té ngã khá cao, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Định Quán là một trong ba huyện của tỉnh Đồng Nai, có tỷ lệ ở trẻ chết do tai nạn thương tích cao nhất tỉnh (té ngã chiếm 46 trường hợp trong 115 trường hợp tử vong). Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ cha mẹ có kiến thức đúng, thực hành đúng và các yếu tố liên quan đến vấn đề phòng tránh té ngã cho trẻ ở trường Mầm non La Ngà là cần thiết trong công tác phòng tránh té ngã, cũng như hạn chế những hậu quả do nó gây ra. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến hành điều tra nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích, trên toàn bộ 412 cha mẹ có con học tại trường mầm non La Ngà. Kết quả: trong 398 cha mẹ tham gia nghiên cứu, có 265 trường hợp có con bị té ngã (tính từ 3 tháng trở về trước đến thời điểm khảo sát). Tỷ lệ cha mẹ có kiến thức đúng về phòng tránh té ngã đạt 97,2%. Tỷ lệ cha mẹ có thực hành đúng về phòng tránh té ngã đạt 76,4%. Qua cuộc khảo sát này có những điểm đáng chú ý về thực hành phòng tránh té ngã cho trẻ chưa tốt như thực hành lắp thanh chắn ở giường ngủ của trẻ chỉ đạt 19,4%, thực hành sử dụng đai an toàn, ghế an toàn khi chở trẻ trên xe hai bánh là 58,7%, thực hành đúng cách giữ trẻ an toàn khi bận việc: 43,0%. Có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về thực hành về phòng tránh té ngã theo việc có kiến thức của cha mẹ (p > 0,05). Kết luận và khuyến nghị: kết quả này đánh giá được phần nào thực trạng phòng tránh té ngã của cha mẹ có con học tại trường mầm non La Ngà. Từ mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành chung về phòng tránh té ngã ta nhận thấy việc thực hành không phụ thuộc vào việc cha mẹ có kiến thức về phòng tránh té ngã hay không. Để các bậc cha mẹ nâng cao nhận thức và có hành động đúng trong phòng tránh té ngã cho trẻ, chúng tôi có một số đề xuất – kiến nghị sau: cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – địa phương. Tổ chức các buổi nói chuyện về phòng tránh té ngã đến Uỷ ban bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em của địa phương, trường mầm non để truyền thông lại cho các bậc cha mẹ. Tổ chức truyền thông rộng rãi, đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh của các hộ gia đình tại địa phương về các biện pháp phòng tránh té ngã. Cung cấp đầy đủ các tài liệu về phòng tránh té ngã và tài liệu phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ.

Xem chi tiết

Tỷ lệ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người truởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Trần Ngọc Phương Thảo

Nhạy cảm ngà là tình trạng phổ biến và xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 871 người từ 18 đến 79 tuổi, nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh. Khám lâm sàng và chẩn đoán nhạy cảm ngà răng bằng kích thích cọ xát (50g) và kích thích thổi hơi (40 - 65p.s.i, 22 ± 20C), đánh giá theo thang điểm 0 - 3. Kết quả cho thấy 85,8% người có răng nhạy cảm với ít nhất một trong hai kích thích, trong đó, 47,4% nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình; khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p < 0,001) và giữa các nhóm nghề nghiệp (p < 0,05), không có khác biệt có ý nghĩa khi xét theo giới hoặc theo khu vực nội và ngoại thành. Số răng nhạy cảm ngà trung bình tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhạy cảm ngà ở từng răng thay đổi từ 10% đến 61%, cao nhất ở vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên, thấp nhất ở vùng răng cửa và răng cối lớn thứ hai hàm trên. Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ biến tại thành phố Hồ Chí Minh, gần một nửa người trưởng thành có nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình. Tỷ lệ nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 40 - 49. Răng thường nhạy cảm ngà nhất là răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên.

Xem chi tiết

So sánh hiệu quả bịt ống ngà trên thỏ thực nghiệm của laser diode 810nm ở 3 liều chiếu tia: 5 giây, 10 giây, 15 giây tại 1 điểm

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Thị Tuyết Nga, Lê Văn Sơn, Trịnh Thị Thái Hà

Điều trị nhạy cảm ngà bằng laser là một phương pháp điều trị an toàn và cho kết quả chắc chắn. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị phụ thuộc vào loại laser và các thông số sử dụng. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: so sánh hiệu quả bịt ống ngà và tác động gây nứt miệng ống ngà của laser diode 810nm ở 3 liều chiếu tia 5 giây, 10 giây, 15 giây trên thực nghiệm. Sáu con thỏ được chia thành 3 nhóm nhận các liều chiếu laser khác nhau: 5 giây (5J/mm2), 10 giây (10J/mm2), 15 giây (15J/mm2). Sau 3 lần chiếu laser (7 ngày 1 lần) các răng được nhổ, xử lý bề mặt và soi trên SEM. Kết quả cho thấy tỷ lệ ống ngà được bịt hoàn toàn ở 3 nhóm tương ứng 49,4% ,86,3% và 86,9%. Tỷ lệ ống ngà bị rạn nứt tương ứng là: 14%, 16,1% và 38,2%. Sử dụng laser diode 810nm; 0,5W với liều chiếu 10 giây liên tục (10J/mm2) đem lại hiệu quả bịt ống ngà cao mà hạn chế ảnh hưởng đến cấu trúc ống ngà.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết

Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết

Sự bộc lộ của P63 và CD10 với SMA trong ung thư biểu mô ống tại chỗ và xâm nhập của vú

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy CD10 và p63 được bộc lộ trong các tế bào cơ biểu mô (CBM) của vú và có thể được sử dụng để phân biệt các ung thư biểu mô vú tại chỗ và xâm nhập. Mụ tiêu: khảo sát sự bộc lộ của SMA, CD10, p63 trong các ung thư biểu mô ống (UTBMO) tại chỗ và xâm nhập, đánh giá khả năng của CD10 và p63 so với SMA trong chẩn đoán phân biệt các UTBMO tại cho và xâm nhập của vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các khối nến bệnh phẩm của 26 UTBMO tại chỗ và 35 UTBMO xâm nhập đã được nhuộm miễn dịch với SMA, CD10 và p63. Tính chất bộc lộ đa được đánh giá theo các mức 0 đến 3+.Tính chất phân bố của tế bào CBM theo hai mức: liên tục hoặ từng phần. Kết quả: Trong UTBMO tại chỗ, các tế bào CBM đã được phát hiện ở 23/26 (88%) cá trường hợp (TH) khi nhuộm SMA so với 18/26 (69%) nhuộm CD10 và 25/26 (96%) nhuộm p63; Nhuộm liên tục quanh các cấu trúc ống ở 10/26 (38%) các TH nhuộm SMA so với 1/26 (4%) nhuộm CD10 va không gặp khi nhuộm p63; Cường độ nhuộm mạnh 3+ gặp trong 9/23 (39%) các TH nhuộm dương tính với SMA, so với 3/18 (17%) và 5/25 (20%) các TH nhuộm dương tính với CD10 và p63. Ngược lại, UT BMO xâm nhập đã không phát hiện thấy các tế bào CBM khi nhuộm CD10. Các nguyên bào xơ và te bào cơ trơn thành mạch đều nhuộm SMA (100%), CD10 chỉ nhuộm các nguyên bào xơ (31/61;51%) p63 không nhuộm mô đệm. Kết luận: p63 là một dấu ấn có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn để pha hiện các tế bào CBM giúp phân biệt các UTBMO tại chỗ và xâm nhập.

Xem chi tiết

Các đặc điểm ống tủy gần ngoài thứ hai của răng cối lớn thứ nhất hàm trên

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Tấn Hưng, Phạm Văn Khoa

Nghiên cứu được triển khai nhằm phát hiện, tạo dạng ống tủy gần ngoài thứ hai (gần ngoài 2) dưới mắt thường, khi dùng kính lúp kèm đèn đội đầu và khi lấy đi ngà về phía chóp dưới kính lúp kèm đèn đội đầu (theo ba giai đoạn) và mô tả vị trí lỗ ống tủy và hướng ống tủy gần ngoài 2. 100 răng cối lớn thứ nhất hàm trên đã nhổ ở người được gắn trên mô hình răng miệng, phát hiện và tạo dạng ống tủy gần ngoài 2 bằng mắt thường hay có kết hợp sử dụng kính lúp và đèn đội đầu, có hay không có lấy đi ngà về phía chóp. Đặt 2 trâm nội nha vào trong 2 ống tủy ở những răng đã tạo dạng ống tủy gần ngoài thứ nhất và ống tủy gần ngoài 2, rồi chụp X quang theo 2 chiều ngoài trong, gần xa để phân loại ống tủy theo Weine (1969) và mô tả hướng ống tủy gần ngoài 2. Lỗ ống tủy gần ngoài 2 nằm trên hay nằm phía gần so đường thẳng nối lỗ ống tủy gần ngoài 1 và lỗ ống tủy trong; cách lỗ ống tủy gần ngoài 1 khoảng 1,85 ± 0,64 mm về phía trong. Nhìn từ phía ngoài có 94% ống tủy gần ngoài 2 nghiêng hay cong lồi về phía gần. Nhìn từ phía gần có 84% ống tủy gần ngoài 2 nghiêng hay cong lồi về phía ngoài.

Xem chi tiết