TELBIVUDINE MỘT DẪN CHẤT TƯ门NG TỰ NUCLEOSIDE MỚI DƯỢC THONG QUA DIỀU TRỊ VIEM GAN B MẠN TINH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Khoảng 5% dân số thế giới (gần 400 triệu người) nhiễm virus viêm gan B mạn tính (HBV: hepatitis B virus), tính theo chiều dọc thời gian sống tỷ lệ nguy cơ triển triển thành xơ gan vào khoảng 15% đến 40% số người nhiễm HBV mạn tính, tử vong do suy gan hay các biến chứng khác của xơ gan hoặc ung thư gan là vấn đề mang tính toàn cầu. Trên thế giới, mỗi năm có thêm khoảng 0,5 triệu trường hợp ung thư gan mắc mới, virus viêm gan B là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan, đặc biệt thuộc khu vực tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam).

Xem chi tiết

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG và tỷ lệ có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm và đánh giá các yếu tố liên quan đến tăng nồng độ progesterone, phân tích liên quan tương tác của nồng độ progesterone và các yếu tố khác đến tỷ lệ có thai lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1395 trường hợp IVF/ICSI được thực hiện tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2012. Tuổi ≤ 38; FSH ≤ 10 IU/L; chuyển phôi ngày 2 – 3; phcs đồ dài, ngắn và antagonist. Loại trừ các trường hợp cho hận noãn; các trường hợp PESA/ICSI. Kết quả cho thấy nồng độ progesterone trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai (0,88 ± 0,77 so với 0,76 ± 0,65). Khi progesterone tăng > 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai thấp hơn có ý nghĩa thống ke so với nồng độ progesterone ≤ 1,5 (21,6% so với 30,7%). Tỷ lệ progesterone tăng > 1,5 ng/ml trong kích thích buồng trứng là 9%. Với ngưỡng progesterone ≤ 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai lâm sàng cao hơn 1,63 lần và tỷ lệ làm tổ cao hơn 1,53 lần so với ngưỡng progesterone > 1,5 ng/ml. Progesterone tăng vào ngày tiêm hCG liên quan đến tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá trên xạ hình toàn thân với i131

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Đình Hà

Mục tiêu: mô tả đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá (UTBMTGBH) trên xạ hình với I131, xác định vai trò của xạ hình toàn thân với I131 trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phân tích, đánh giá giá trị Tg, kết quả xạ hình toàn thân với I131 và film CT phổi ở 60 bệnh nhân UTBMTGBH di căn phổi. Kết quả: xạ hình với I131 phát hiện 58/60 (96,67%) các trường hợp di căn phổi, trong đó di căn phổi đơn thuần 56,7%, di căn phổi có kèm di căn hạch trung thất 25% và di căn phổi kết hợp với di căn xương 18,3%. Hình ảnh tổn thương tăng tập trung I131 dạng lan toả chiếm 65%, dạng khu trú 31,7%, 3,33% bệnh nhân tổn thương di căn không bắt I131. Chụp CT phổi phát hiện 32/60 bệnh nhân (53,3%) còn 28/60 bệnh nhân (46,7%) không thấy hình ảnh tổn thương phổi trên CT. Giá trị Tg trong máu cao trên 10 ng/ml ở 55/60 bệnh nhân (91,67%), có 5/60 bệnh nhân (8,33%) giá trị Tg < 10 ng/ml. Kết luận: xạ hình với I131 cho hình ảnh điển hình giúp phát hiện di căn phổi của UTBMTGBH với độ nhạy rất cao. Tổn thương di căn phổi trên xạ hình là hình ảnh tăng tập trung I131 dạng lan tỏa hoặc khu trú. Xạ hình toàn thân với I131 đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Hình ảnh tổn thương trên CT phổi kết hợp với nồng độ Tg trong máu cao có giá trị chẩn đoán trong những trường hợp tổn thương ở phổi không bắt I131 trên xạ hình.

Xem chi tiết

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan b mạn tính bằng phân tích đơn biến và phân tích đa biến

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Mục tiêu: đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 174 bệnh nhân. Xét nghiệm huyết thanh học dấu ấn HBV, nồng độ alpha - fetoprotein bằng ELISA, nồng độ HBV - DNA xác định bằng real - time PCR. Phân loại kiểu gen của HBV bằng PCR - RFLP hoặc ELISA. Đột biến gen của HBV xác định bằng giải trình tự gen. Các thuật toán phân tích đơn biến và đa biến tương quan hồi qui được áp dụng để xử lý số liệu. Kết quả: phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố giới tính nam, nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV, đột biến bộ đôi T1762A1764 và C/A1753, là các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính. Phân tích đa biến cho thấy nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV và đột biến bộ đôi T1762A1764 là những yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê. Kết luận: nghiên cứu đã góp phần đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính.

Xem chi tiết

Giá trị của amh, fsh và afc trong dự đoán đáp ứng kém với kích thích buồng trứng thụ tinh ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 02

Tác giả: Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn

Đáp ứng kém vớ kích thích bu ồng trứng liên quan với số noãn thu được ít và tỷ lệ thai thấp. Dự đoán đáp ứng kém có tầm quan trọng trong tư vấn và điều trị cho các bệnh nhân này. Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh giá trị của AMH, FSH, AFC và xác định giá trị ngưỡng của các xét nghiệm này trong dự đoán đáp ứng kém. Kết quả cho thấy tỉ lệ đáp ứng kém là 14,3%. AMH có giá trị dự đoán tốt nhất, tiếp theo là AFC và cuối là FSH. AMH < 1,25 ng/ml dự đoán đáp ứng kém < 3 noãn với độ nhạy 86,7% và độ đặc hiệu 84,8%. AMH có giá trị tốt nhất trong dự đoán đáp ứng kém. Áp dụng kết quả nghiên cứu vào lâm sàng cần xem xét thêm điều kiện của trung tâm và các dữ kiện lâm sàng khác của bệnh nhân.

Xem chi tiết

Kinh nghiệm từ ca lâm sàng ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị kết hợp nút mạch có tiêm hóa chất với tiêm cồn qua da có di căn tế bào ung thư theo đường kim chọc hút tế bào

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Công Long, Bùi Xuân Trường, Phạm Minh Thông, Phạm Thị Thu Hồ, Nghiêm Quốc Hưng, Trần Minh Phương, Đào Văn Long, Nguyễn Khánh Trạch

Nút mạch có tiêm hóa chất và tiêm cồn qua da dưới hướng dẫn của siêu âm là hai trong số các phương pháp không phẫu thuật, hiện nay được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư gan. Bệnh nhân nam 50 tuổi bị ung thư gan với đường kính khối U gan trên 5 cm, được điều trị nút mạch có tiêm hóa chất kết hợp với tiêm cồn sau đó, đến thời điểm hiện tại sống trên 6 năm, cho thấy kết quả điều trị rất tốt. Tuy nhiên, bệnh nhân xuất hiện di căn vào thành ngực theo đường kim chọc hút tế bào gan chính là vấn đề cần rút kinh nghiệm cho các trường hợp khác, đặc biệt trên bệnh nhân có khối U gan với đường kính lớn, hình ảnh siêu âm khá điển hình và có nồng độ AFP tăng cao trên 200 ng/ml. Từ khóa: Ung thư gan, TACE, PEIT

Xem chi tiết

Giá trị của SCC - AG/huyết thanh của các bệnh nhân ung thư cổ tử cung trước, trong và sau xạ trị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Bùi Diệu

Đánh giá nồng độ SCC - Ag trên những bệnh nhân ung thư cổ tử cung trước, trong và sau điều trị và trên cơ sở đó có thể theo dõi tái phát và di căn của ung thư cổ tử cung sau điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 70 bệnh nhân ung thư cổ tử cung tại bệnh viện K trong 2 năm từ 2008 - 2009, những bệnh nhân này được theo dõi dọc các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm nồng độ SCC - Ag/ huyết thanh. Kết quả: Nồng độ SCC - Ag huyết thanh giảm nhanh trong và sau điều trị, đồng hành với kết quả điều trị của bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ SCC - Ag huyết thanh từ 2 ng/ml trở xuống (giá trị bình thường) tăng theo thời gian, cao nhất ở 3 tháng sau điều trị (88,8%) và vẫn duy trì ở mức cao 6 tháng sau điều trị (88,3%). Kết luận: Nồng độ SCC - Ag huyết thanh là rất có giá trị trong việc theo dõi kết quả điều trị ung thư cổ tử cung.

Xem chi tiết