Thực trạng không tuân thủ điều trị và một sồ yếu tố ảnh hưởng tại cơ cở điều trị METHADONE tỉnh Phú Thị năm 2012 - 2016

Chuyên ngành: Y học dự phòng

Tên hướng dẫn: PGS.TS. ĐÀO THỊ MINH AN

Tên tác giả: NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

Ngày gửi: 18-12-2017 10:38 AM

Cập nhật cuối: 18-12-2017 10:38 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (MMT) được biết đến từ những năm 1960 là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [1],[2].

Việt Nam đã triển khai chương trình MMT thí điểm từ năm 2008, tại TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Tính đến tháng 01 năm 2016, có 57/61 tỉnh, thành trong cả nước đã có cơ sở điều trị (CSĐT) MMT, cung cấp dịch vụ cho cho 44.078 người bệnh [3]. Một trong những tiêu chí đánh giá thành công của chương trình điều trị MMT là bệnh nhân (BN) phải tuân thủ điều trị với các yêu cầu điều trị lâu dài, có mặt hàng ngày đầy đủ tại cơ sở Y tế để nhận thuốc  và đặc biệt là trong suốt quá trình điều trị BN được yêu cầu không được tái sử dụng heroin [2],[4],[5]. Theo báo cáo của các đơn vị đã triển khai MMT đầu tiên tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị là không cao trong khoảng thời gian từ 3 tháng đến 2 năm tham gia chương trình, cụ thể là tại Hải Phòng, tỉ lệ bỏ điều trị lũy tích sau 3 tháng là 33,2% [6]. Nghiên cứu của Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế (FHI) trong 2 năm cho thấy tỉ lệ bỏ liều trong 3 tháng đầu của nghiên cứu tăng dần từ 11,5% vào 3 tháng đầu và đạt đỉnh với 33,4% giữa tháng 12 đến tháng 18 [7]. Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long (2017) tại Tuyên Quang cho thấy tỉ lệ chưa tuân thủ chiếm 65,6% [8]. Tuy nhiên, tại Việt Nam đến năm 2016 có rất ít nghiên cứu đánh giá về tuân thủ điều trị MMT với thời gian theo dõi điều trị trên 2 năm.