Thực trạng công tác quản lý người bệnh Tâm Thần Phân Liệt tại tỉnh Phú Thọ năm 2016

Chuyên ngành: Quản lý Y tế

Tên hướng dẫn: PGS-TS. TRẦN NHƯ NGUYÊN

Tên tác giả: LÊ ANH HẢI

Ngày gửi: 13-11-2017 04:32 PM

Cập nhật cuối: 13-11-2017 04:32 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tâm thần phân liệt là một trong những bệnh tâm thần nặng nhất, thường gặp trong thực hành tâm thần. Bệnh có xu hướng tiến triển mạn tính, dẫn đến rối loạn nặng nề về tư duy, hành vi, cảm xúc, trí tuệ… Người bệnh dần trở nên tàn phế, giảm sút dần rồi mất các khả năng xã hội và khả năng lao động,  không thể tự nuôi sống bản thân và sống độc lập, có thể có các hành vi nguy hiểm ảnh hưởng đến bản thân, gia đình và những người xung quanh.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới khoảng 0,6 - 1% dân số và mỗi năm cứ 10000 người dân từ 12 đến 60 tuổi thì có một người mắc tâm thần phân liệt [1]. Theo Trần Viết Nghị và cộng sự, tại Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh TTPL chiếm khoảng 0,3 - 1% dân số [2].

Nguyên nhân của bệnh là vấn đề còn chưa được rõ ràng, nhìn chung  các quan niệm đều cho rằng bệnh sinh của bệnh TTPL rất phức tạp, có thể là những sự tác động qua lại của các yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý...[3], [4].

Hiện nay, trên thế giới, số người bệnh TTPL được điều trị nội trú chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (ở Hoa kỳ là khoảng 20%, ở Việt Nam: khoảng 1%), ít hơn rất nhiều so với số người bệnh thực tế. Ở Việt Nam đa số các người bệnh TTPL hiện sống cùng gia đình tại cộng đồng. Do đó, vấn đề quản lý, chăm sóc, điều trị ngoại trú tại cộng đồng, phòng chống tái phát và tái thích ứng, phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh là việc làm rất quan trọng có ý nghĩa thiết thực để giảm thiệt hại cho người bệnh, gia đình người bệnh, giảm gánh nặng chi phí, góp phần ổn định an ninh trật tự cho xã hội. Chính vì vậy Chương trình mục tiêu Quốc gia - Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng (nay thuộc Chương trình mục tiêu y tế - dân số) đã được đưa vào chương trình Y tế quốc gia ở Việt Nam từ năm 1999 và đã thu được những kết quả đáng kể.