Nghiên cứu về liên cầu nhóm B ở các phụ nữ viêm Âm Đạo tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017

Chuyên ngành: Vi sinh - ký sinh trùng

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN VŨ TRUNG

Tên tác giả: NGUYỄN VŨ THỦY

Ngày gửi: 21-11-2017 09:37 AM

Cập nhật cuối: 21-11-2017 09:37 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Viêm âm đạo là một trong những bệnh phụ khoa thường gặp nhất ở phụ nữ. Theo một số nghiên cứu của các tác giả trong nước, tỉ lệ viêm âm đạo ở phụ nữ khoảng 20% và các thai phụ khoảng 50%. Viêm âm đạo nếu không được điều trị đúng, kịp thời có thể gây viêm CTC, TC, viêm dính vòi trứng và hậu quả là bệnh nhân có thể bị vô sinh, chửa ngoài tử cung [1],[2],[3].

Liên cầu nhóm B cư trú ở đường tiêu hóa và niệu dục của người phụ nữ, thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng trong hầu hết các trường hợp. Ở phụ nữ có thai, liên cầu nhóm B có thể gây nhiễm trùng tiết niệu, nhiễm khuẩn ối, viêm niêm mạc tử cung. Sự lây truyền dọc từ mẹ sang con có thể xảy ra vào thời kỳ chuyển dạ hoặc vỡ ối. Sự lây nhiễm này là yếu tố nguy cơ quan trọng gây nhiễm trùng sơ sinh trầm trọng với tỷ lệ tử vong tới 50%. Một số nghiên cứu cho thấy con của những sản phụ bị nhiễm liên cầu nhóm B có nguy cơ nhiễm khuẩn huyết sơ sinh cao gấp 25 lần so với con của những sản phụ bình thường. Tỷ lệ nhiễm liên cầu nhóm B đường sinh dục ở phụ nữ không có thai và các thai phụ không có sự khác biệt [4],[5].

Liên cầu nhóm B được chia thành 10 type huyết thanh, trong đó các type Ia, Ib, II, III, V chiếm tới 95%. Type III là type hay gây viêm màng não ở trẻ sơ sinh và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn nhất [6].

Năm 1996, Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh của Hoa Kỳ (CDC) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban hành Khuyến cáo về Chiến lược điều trị dự phòng nhiễm liên cầu nhóm B ở các thai phụ. Kết quả cho thấy có sự giảm đáng kể của tần suất bệnh và tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng sơ sinh