Nghiên cứu về liên cầu khuẩn nhóm B âm đạo ở Thai Phụ 3 tháng cuối tại bệnh viện Bạch Mai

Chuyên ngành: Sản phụ khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Bá Nha

Tên tác giả: NGUYỄN THỊ THÊM

Ngày gửi: 21-11-2017 11:12 AM

Cập nhật cuối: 21-11-2017 11:12 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Liên cầu khuẩn nhóm B (Group B Streptococcus – GBS), cư trú trong đường tiêu hóa và niệu dục của phụ nữ, thường không biểu hiện lâm sàng và không gây bệnh ở hầu hết các trường hợp. Tuy nhiên, liên cầu khuẩn nhóm B có thể gây ra tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn ối, nhiễm khuẩn huyết, viêm niêm mạc tử cung sau đẻ ở thai phụ. Ngoài ra liên cầu khuẩn nhóm B còn gây ra tình trạng ối vỡ sớm, ối vỡ non, rỉ ối và tình trạng sinh non [9]. Từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay, liên cầu khuẩn nhóm B (Group B Streptococcus- GBS) vẫn được xem là tác nhân hàng đầu gây bệnh lý nhiễm khuẩn sơ sinh. Và mặc dù được chăm sóc trong điều kện tốt nhất thì 1/10 trẻ sơ sinh được chẩn đoán nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B khởi phát nhiễm khuẩn sớm sẽ tử vong [35]. Sự lây truyền từ mẹ sang con có thể xảy ra khi thai phụ có nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B âm đạo vào thời điểm chuyển dạ hoặc ối vỡ.

Những người lành mang mầm bệnh này thường gặp chiếm 10-35%, đặc biệt ở âm đạo, trực tràng. Schrag và cộng sự (2003) đã báo cáo tỷ lệ mang mầm bệnh này là 20-30% trên thai phụ có tuổi thai trung bình là 35 tuần [43].

Do tác hại của nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B gây ra ở trẻ sơ sinh trầm trọng với triệu chứng đa dạng, không điển hình và tỷ lệ tử vong cao nên từ những thập niên 80 của thế kỷ XX nhiều tác giả đã cố gắng tìm cách phòng ngừa lây nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B từ mẹ sang con [26]. Năm 1996, Trung tâm kiểm soát dich bệnh của Hoa kỳ (CDC) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ban hành khuyến cáo về chiến lược điều trị dự phòng nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B dựa vào yếu tố nguy cơ ở các thai phụ. Sau khi áp dụng các hướng dẫn về sử dụng kháng sinh dự phòng, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều nghiên cứu đánh giá chương trình này và nhận thấy hiệu quả vô cùng to lớn: Giảm tỷ lệ lây truyền dọc từ mẹ sang con; Giảm 21% tỷ lệ bệnh lý nhiễm khuẩn liên cầu khuẩn nhóm B ở mẹ; Giảm 70% bệnh lý nhiễm trùng sơ sinh sớm [35]. Tại Bệnh viện Bạch Mai nhiều năm nay đang sử dụng Zinnat để điều trị cho thai phụ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên hiệu quả này chưa được đánh giá lại.