Nghiên cứu hiệu quả điều trị của cắt Tử Cung dự phòng ở bệnh nhân chửa trứng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ năm 2014 đến 2016

Chuyên ngành: Sản phụ khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. PHẠM HUY HIỀN HÀO

Tên tác giả: LÙ THỊ THANH TUYỀN

Ngày gửi: 25-12-2017 11:49 AM

Cập nhật cuối: 25-12-2017 11:49 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Bệnh nguyên bào nuôi sau thai nghén là một tập hợp các hình thái bệnh lý, từ dạng lành tính như chửa trứng đến dạng có xu hướng ác tính như chửa trứng xâm lấn (CTXL), u nguyên bào nuôi vị trí rau bám (UNBNVRB) và dạng ác tính thực sự là ung thư nguyên bào nuôi (UTNBN). Nguồn gốc của bệnh là từ các nguyên bào nuôi, hình thành trong quá trình thụ thai có rối loạn phát triển, khiến trục liên kết của các gai rau thoái hóa, các nguyên bào nuôi vẫn giữ được các đặc điểm đặc trưng: khả năng xâm lấn, phá hủy,  phát tán vào hệ tuần hoàn mẹ và chế tiết hCG [1], [2].

Hàng năm, trên thế giới cứ khoảng 126 triệu phụ nữ sinh đẻ thì có đến 126.000 phụ nữ bị chửa trứng, trong đó 10% cần phải được điều trị hoá chất. Nếu tính gặp sau chửa trứng cả các UTNBN sau đẻ và sẩy thai thường thì số trường hợp cần điều trị có thể lên đến 40.000 trong 1 năm. Tỷ lệ tăng cao ở các nước Đông Nam Á, với 7/1000 ở Philippin hay 2,8/1000 ca đẻ ở Malaysia [3]. Trái lại,theo tổ chức Y Tế Thế giới, tỷ lệ chửa trứng ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ thấp hơn, tại Mỹ tỷ lệ là 1/1500 – 2000 thai nghén. Còn tại Việt Nam, theo điều tra của Dương Thị Cương năm 1998 tỷ lệ chửa trứng là 1/456 tương đương 2,1/1000 thai nghén [4], [5].

Bệnh nguyên bào nuôi là một dạng bệnh lý đặc biệt, trong đó các tổn thương có thể chuyển từ hình thái lành tính (chửa trứng), sang hình thái ác tính (CTXL hay UTNBN). Bệnh lý UNBN thường xuất hiện sau khi có thai,đặc biệt là hay gặp sau chửa trứng với tỷ lệ 15-20%[6], [7]. Bệnh được phát hiện giai đoạn sớm có thể điều trị khỏi 100%, giai đoạn muộn việc điều trị nặng nề hơn do độc tính cao, thời gian điều trị dài và phức tạp. Tuổi của bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổi hình thái này theo xu hướng tăng lên.

Quy trình điều trị chung là loại bỏ tổ chức thai trứng và điều trị hoá chất nếu có biến chứng ác tính hoặc kết quả giải phẫu bệnh lý là tổn thương ác tính. Loại bỏ tổ chức thai trứng có thể bằng hút buồng tử cung (bảo tồn tử cung) hoặc mổ cắt tử cung hoàn toàn cả khối hay sau nạo thai trứng. Với phụ nữ trẻ, có nhu cầu sinh đẻ thì điều trị theo hướng bảo tồn tử cung.