Nghiên cứu giá trị của X -Quang cắt lớp trong chẩn đoán Ung Thư Vú

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: GS.TS. Phạm Minh Thông

Tên tác giả: ĐẶNG PHƯỚC TRIỀU

Ngày gửi: 27-12-2017 10:39 AM

Cập nhật cuối: 27-12-2017 10:39 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư (UT) phổ biến nhất ở phụ nữ, có tỷ lệ  mắc mới mỗi năm đứng hàng đầu ở nhiều nước trên thế giới. Theo số liệu của Tổ chức thống  kê  ung thư Globocan 2012, tỷ lệ mới mắc UTV chuẩn là 38,9/100.000, tức là mỗi năm trên thế giới có 1,67 triệu người mắc UTV, chiếm 25% tất cả các loại UT ở phụ nữ và tỷ lệ tử vong do UTV đứng hàng thứ 5 [1].UTV được quan tâm hàng đầu do tần suất mắc bệnh ngày càng tăng. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi nhiều từ 25 – 35/100000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Hoa Kỳ, Canada, đến 2 – 5/100000 dân tại Nhật Bản, Mexico, Venezuela [1]. Tại Việt Nam UTV đứng thứ nhất trong các UT ở phụ nữ. Theo Nguyễn Bá Đức, ước tính chung cho cả nước năm 2000, tỷ lệ mắc UTV chuẩn theo tuổi là 17,4/100.000 dân [2] và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Theo thống kê dịch tễ học giai đoạn từ 2001 – 2007, UTV cũng là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ với tỷ lệ 30/100.000 người, tỷ lệ tử vong do UTV chiếm khoảng 6,3% đứng sau các loại ung thư gan, phổi, dạ dày, cổ tử cung [3], [4]. Phát hiện sớm UTV làm giảm tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị. Việc phát hiện UTV chủ yếu dựa vào khám lâm sàng, X.Quang, siêu âm tuyến vú và xét nghiệm tế bào [5]. Tuy nhiên có đến hơn 10% UVT trên siêu âm, và 10 – 30% UTV trên X.Quang tuyến vú thông thường (Digital mammography – DM) bị bỏ sót. Ở những BN tuyến vú đặc (týp c-d) độ nhạy của phương pháp DM chỉ còn 30% [6].