Nghiên cứu giá trị chụp cộng hưởng từ 1,5 TESLA tiểu khung với các xung không tiêm thuốc đối quang từ trong chẩn đoán gia đoạn Ung thư Trưc Tràng

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS. TS. Bùi Văn Lệnh

Tên tác giả: TRẦN THỊ NGA

Ngày gửi: 09-11-2017 04:04 PM

Cập nhật cuối: 09-11-2017 04:04 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư trực tràng (UTTT) rất thường gặp, nhất là các nước phát triển, là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 trong các loại ung thư. Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 572.000 người mắc ung thư đại trực tràng (UTĐTT), trong đó ung thư trực tràng chiếm 50%, với tỷ lệ như nhau ở 2 giới [1].

Tại Việt Nam, năm 2010, có 13.678 ca UTĐTT, đứng hàng thứ 4 trong số các bệnh ung thư hay gặp, theo ước tính đến năm 2020 sẽ đứng thứ 2 sau ung thư phổi ở nam và đứng thứ 3 sau ung thư vú và ung thư phổi ở nữ [2]. Bệnh đang trở thành một vấn đề lớn của y tế cộng đồng. Phát hiện sớm UTĐTT có ý nghĩa quan trọng. Tỷ lệ sống trên 5 năm của các bệnh nhân ung thư trực tràng được điều trị ở nước ta trung bình là 50% tính chung cho các loại, nhưng nếu phát hiện sớm (giai đoạn Dukes A), tỷ lệ này là 90-95% [3], [4].

Xây dựng chiến lược điều trị UTTT phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn bệnh và typ mô bệnh học, trong đó phẫu thuật, xạ trị và hóa trị là bộ ba cơ bản để điều trị UTTT. Có nhiều phương pháp chẩn đoán UTTT trước phẫu thuật. Mỗi phương pháp có một vai trò và giá trị khác nhau. Thăm trực tràng (TT) là phương pháp khám đầu tiên, bước đầu định hướng chẩn đoán và sàng lọc UTTT trong cộng đồng. Phương pháp này rất hạn chế đánh giá xâm lấn ra lân cận và phụ thuộc vào kinh nghiệm chủ quan. Nội soi TT ống cứng hay ống mềm là phương pháp thăm dò quan trọng để phát hiện u nhưng chỉ có thể quan sát, đánh giá hình dạng bề mặt tổn thương mà không đánh giá được mức độ xâm lấn thành hay hạch xung quanh. Siêu âm nội TT đánh giá tốt mức độ xâm lấn khi khối u ở giai đoạn còn trong thành TT, hạn chế khi u xâm lấn tạng xung quanh và không thể áp dụng cho khối u dọa vỡ, chảy máu hay gây chít hẹp lòng TT [4].

Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy đầu dò và chụp cộng hưởng từ (CHT) với từ lực cao đã đem lại hiệu quả cao trong việc chẩn đoán, đánh giá mức độ xâm lấn và DC trong UTTT. CHT là phương pháp chẩn đoán không dùng tia X, thực hiện được lớp cắt mỏng theo nhiều bình diện (mặt phẳng ngang, đứng dọc và đứng ngang), có nhiều lợi thế trong đánh giá tổ chức phần mềm nên ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn [5]. Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu CHT đánh giá giá trị chẩn đoán UTTT. Protocol thường quy trước đây trong chẩn đoán ung thư trực tràng gồm các chuỗi xung cơ bản kết hợp với có tiêm thuốc đối quang từ. Tuy nhiên, ngày nay với những máy cộng hưởng từ có từ lực cao kết hợp với các chuỗi xung khuếch tán (b cao) rất nhậy trong đánh giá khối u, mức độ xâm lấn cũng như di căn hạch. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng việc tiêm thuốc đối quang từ không làm cải thiện chẩn đoán chính xác giai đoạn ung thư trực tràng so với chỉ chụp các chuỗi xung không bao gồm tiêm thuốc [6], [7], [8]. Mặc dù vậy, tại Việt Nam protocol chụp cộng hưởng từ hiện nay ở các cơ sở chẩn đoán ung thư trực tràng đều sử dụng thuốc đối quang từ và hiện tại chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của cộng hưởng từ không tiêm thuốc trong chẩn đoán giai đoạn và mức độ xâm lấn của ung thư trực tràng.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giá trị chụp cộng hưởng từ 1,5 Tesla tiểu khung với các xung không tiêm thuốc đối quang từ trong chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng’’

nhằm hai mục tiêu:

1.     Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ 1,5 Tesla tiểu khung trên các xung chuỗi xung không tiêm thuốc của ung thư trực tràng.

2.     Đánh giá giá trị của chụp cộng hưởng từ 1,5 Tesla tiểu khung với các xung không tiêm thuốc trong chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng.