Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số nguy cơ của nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ được lưu ống thông bàng quang

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS.Trần Minh Điển

Tên tác giả: TRẦN QUỐC KHÁNH

Ngày gửi: 08-11-2017 03:35 PM

Cập nhật cuối: 08-11-2017 03:35 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Nhiễm khuẩn đường tiểu (NKĐT) là một trong những bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ em nhất là trẻ nhỏ. Ở các nước đang phát triển NKĐT đứng hàng thứ ba sau các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tiêu hóa [1], [2].

Nhiễm khuẩn đường tiểu liên quan ống thông bàng quang (Catheter associated urinary tract infections – CAUTI) là một nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện thường gặp nhất, là nguyên nhân gây khó khăn cho điều trị, gây ra nhiều biến chứng cho bệnh nhân, tốn kém về kinh tế, kéo dài thời gian nằm viện, tăng khả năng lây chéo vi khuẩn đa kháng, tăng tỷ lệ bệnh tật, thậm trí gây ra tử vong cho người bệnh. Ước tính mỗi năm có 13.000 trường hợp tử vong liên quan đến NKĐT [2], [3].

Một đặc điểm nổi bật là NKĐT thường không có triệu chứng lâm sàng (LS) rầm rộ. Một phần do đặc điểm lâm sàng của NKĐT, một phần do khó phát hiệu triệu chứng lâm sàng của NKĐT ở bệnh nhân (BN) nhỏ tuổi, bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân sau mổ.

Biểu hiện lâm sàng, căn nguyên vi sinh ở những bệnh nhân CAUTI khá thay đổi do liên quan đến thời gian lưu ống thông dài hay ngắn. Biểu hiện bệnh có thể có triệu chứng hoặc không có triệu chứng. Căn nguyên vi khuẩn (VK) gây bệnh gặp chủ yếu là Candida albicans, E.coli, Enterococcus pp, tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh. Hiện nay tỷ lệ kháng kháng sinh của các VK này rất cao và là vấn đề thường gặp [4], [5], [6], [7].

Các yếu tố nguy cơ, chủ yếu bao gồm: thời gian lưu ống thông bàng quang, trẻ dưới 2 tuổi, giới nữ, trẻ bị suy dinh dưỡng nặng hoặc bị bệnh tiểu đường, bị các thủ thuật can thiệp như đặt ống thông bàng quang dễ mắc bệnh hơn. Yếu tố quan trọng nhất là ứ đọng nước tiểu do dị dạng đường tiểu, luồng trào ngược bàng quang niệu quản, sỏi niệu quản, chít hẹp bao quy đầu, khối u chèn ép, liệt bàng quang, nước tiểu dư lại sau khi tiểu tiện,...làm tăng nguy cơ NKĐT ở những bệnh nhân có đặt ống thông bàng quang để dẫn lưu nước tiểu [1], [8].