Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài Sọ bằng phương pháp can thiệp Nội Mạch

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS.TS. VŨ ĐĂNG LƯU

Tên tác giả: TRẦN ĐỨC TUẤN

Ngày gửi: 16-11-2017 09:52 AM

Cập nhật cuối: 16-11-2017 09:52 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong số các bệnh lý liên quan đến tim mạch, đột quỵ chiếm tỷ lệ đáng kể và thiếu máu não là thể bệnh lý thường gặp nhất trong nhóm đột quỵ [1]. Bệnh học dẫn đến thiếu máu não nói riêng hay đột quỵ nói chung khá phức tạp nhưng đa phần thường liên quan đến xơ vữa mạch máu và huyết khối. Xơ vữa gây nguy cơ dẫn đến nhiều biến cố bệnh lý, từ cứng hoá thành động mạch đến làm hẹp lòng, và có thể dẫn đến tắc nghẽn dòng chảy. Xơ vữa của động mạch chủ và các nhánh của nó, đặc biệt động mạch cảnh trong là một trong các nguyên do gây ra đột quỵ thiếu máu não. Theo nhiều tác giả, 20-30% TBMMN là do huyết khối từ mảng xơ vữa ĐM cảnh gây ra [2].

Bệnh cảnh lâm sàng của hẹp, tắc động mạch cảnh trong có thể rất nặng nề nếu hệ thống bàng hệ không hoạt động tốt, dẫn tới tử vong hoặc di chứng nặng nề [3] hoặc chỉ có đột quỵ ở mức độ trung bình, nhẹ, ở dạng thiếu máu não thoáng qua hoặc thậm chí không có triệu chứng [4].

Tại thời điểm hiện tại, có nhiều lựa chọn trong điều trị hẹp động mạch cảnh trong, nhưng tất cả đều với mục đích cố gắng hạn chế tối thiểu mức độ can thiệp cho người bệnh. Trong thập kỷ vừa qua, phương pháp đặt stent động mạch cảnh trong (CAS) được đề xuất là một lựa chọn bên cạnh phẫu thuật bóc tách nội mạc (CAE)  trên những bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng với chẩn đoán hẹp nặng động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ. Phương pháp này đã được các nghiên cứu lớn như CAVATAS [5], SAPPHIRE [6], CASES-PMS [7]… chứng minh về tính hiệu quả và an toàn, được Cục Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận và áp rộng rãi trên thế giới.