Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị cộng hưởng từ trong chẩn đoán U Nàng Não Thất ở trẻ em

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Duy Huề

Tên tác giả: LÊ HOÀI GIANG

Ngày gửi: 20-12-2017 09:36 AM

Cập nhật cuối: 20-12-2017 09:36 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

     

U màng não thất (Ependymoma) là các khối u xuất phát từ tế bào màng não thất (UMNT) hoặc từ tế bào màng ống nội tuỷ (u màng ống nội tuỷ). UMNT là u nội sọ, thuộc nhóm u thần kinh đệm. Tỷ lệ mắc loại u này khác nhau giữa trẻ em và người lớn, chiếm khoảng 3% trong tổng số u não ở người lớn và từ 5-10% trong số các u não trẻ em [1].

Cũng giống như các loại u não khác, trẻ em khi có UMNT có thể không có triệu chứng lâm sàng khi mới xuất hiện và được phát hiện một cách tình cờ. Đến khi khối u phát triển đủ lớn, tạo thành khối choán chỗ nội sọ, làm tăng áp lực nội sọ, tắc nghẽn hệ thống não thất và từ đó gây triệu chứng lâm sàng. Với các UMNT ở trẻ em thì hội chứng tăng áp lực nội sọ biểu hiện sớm hơn một số loại u não khác vì thường là u dưới lều, phát triển trong não thất IV gây tắc nghẽn sự lưu thông dịch não tủy, gây ứ nước não thất, giãn hệ thống não thất phía trên u. Sự chiếm chỗ của khối u cùng với sự ứ nước não thất làm tăng áp lực nội sọ. Khi áp lực nội sọ tăng cao sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm như thoát vị não, hôn mê. Vì vậy các khối UMNT cần được chẩn đoán và điều trị sớm [2].

UMNT có thể ở trên và/hoặc dưới lều tiểu não. UMNT ở dưới lều thường phát triển trong não thất, trong khi UMNT trên lều lại phát triển ra ngoài NT, một số ít trường hợp u nằm hoàn toàn ngoài NT, trong nhu mô não gây khó khăn trong chẩn đoán. Ngoài ra có một số loại u não không phải UMNT nhưng phát triển vào trong NT, gây chẩn đoán nhầm lẫn với UMNT [3]. Để giải quyết các vấn đề này, chẩn đoán hình ảnh trong đó cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ (CHT) giữ vai trò chủ đạo giúp chẩn đoán sớm, chẩn đoán vị trí, tính chất u, các thành phần liên quan xung quanh u. Việc này giúp các nhà phẫu thuật thần kinh biết rõ tình trạng u, xác định phương pháp phẫu thuật thích hợp để loại bỏ u não nói chung và u màng não thất nói riêng [1], [4].