Nghiên cứu đặc điểm bệnh nhân thông Liên Nhĩ lỗ thứ hai có phình cách Liên Nhĩ và kết quả sớm can thiệp bít lỗ thông bằng dụng cụ qua da

Chuyên ngành: Nôi Tim mạch

Tên hướng dẫn: PGS. TS. BS Nguyễn Lân Hiếu

Tên tác giả: TRẦN TIẾN ANH

Ngày gửi: 20-11-2017 09:55 AM

Cập nhật cuối: 20-11-2017 09:55 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông liên nhĩ (TLN) là bệnh lý thường gặp trong tim bẩm sinh, với tần suất mắc bệnh khoảng 2 trên 1000 trẻ sinh ra sống [1], [2], [3], [4].

Bệnh nhân có lỗ TLN nhỏ (đường kính lỗ thông dưới 10 mm) thường không có triệu chứng [5]. Những bệnh nhân có lỗ TLN kích thước trung bình thường đến tuổi trưởng thành mới được phát hiện bệnh. Khó thở khi gắng sức là triệu chứng gợi ý đầu tiên phổ biến nhất của bệnh [5]. Nếu bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn hơn có thể gặp các triệu chứng của suy tim phải, rối loạn nhịp tim (tim nhanh nhĩ, cuồng nhĩ, rung nhĩ), tắc mạch nghịch thường, tăng áp lực động mạch phổi [6]. Nếu được phát hiện sớm, bệnh có thể được điều trị và khỏi hoàn toàn bằng phẫu thuật vá TLN hay bít TLN bằng dụng cụ qua da.  

Phẫu thuật vá TLN là phương pháp điều trị kinh điển, cho kết quả tốt và hiệu quả cao, tuy nhiên tỷ lệ tử vong và biến chứng do phẫu thuật vẫn còn tồn tại không thể tránh khỏi hoàn toàn [6]. Ngày nay, sự phát triển các dụng cụ bít TLN thế hệ mới giúp việc can thiệp bít TLN bằng dụng cụ qua da đạt được nhiều tiến bộ [7]. Với dụng cụ Amplatzer, tỷ lệ bít kín hoàn toàn lỗ TLN ngay sau can thiệp là 91,26% và sau một tháng là 98,91%, tỷ lệ tai biến là 0,78% [7]. Phương pháp này ngày càng chứng minh được tính hiệu quả như thời gian nằm viện ngắn, ít đau, không có sẹo mổ, ít biến chứng ngay cả ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao [6]. Bởi vậy, trong khuyến cáo về điều trị các bệnh tim bẩm sinh của Hội Tim mạch châu Âu năm 2010, can thiệp bít TLN bằng dụng cụ qua da là chỉ định loại I, mức bằng chứng C [5].