Nghiên cứu chức năng hô hấp của người bệnh trước và sau phẫu thuật cắt thùy Phổi do Ung Thư tại bệnh viện Phổi Trung Ương

Chuyên ngành: Sinh lý học

Tên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thanh Hương - TS. Lê Tuấn Thành

Tên tác giả: ĐẶNG THỊ TUYẾT

Ngày gửi: 21-11-2017 03:05 PM

Cập nhật cuối: 21-11-2017 03:05 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

  Ung thư phổi luôn là một thách thức lớn về sức khoẻ đối với y học toàn cầu do tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, có xu hướng tăng lên, kèm theo những chi phí rất tốn kém trong điều trị bệnh. Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2002, ung thư phổi đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư ở nam giới và đứng thứ năm trong các bệnh ung thư ở nữ giới [1], [2]. Ung thư phổi có tỷ lệ tử vong cao nhất ở Trung Quốc với cả nam và nữ giới [3]. Tại Hà Nội, năm 1999, tỷ lệ ung thư phổi mắc chuẩn theo tuổi là 32,4/ 100.000 dân, ở thành phố Hồ Chí Minh là 29,1/ 100.000 dân [4], [5]. Nhìn chung từ năm 2001-2004, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi đều tăng ở cả hai giới [6]. Trong mười loại ung thư thường gặp tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003-2004, ung thư phổi đứng hàng thứ nhất ở nam giới và đứng thứ ba ở nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới [7].

Ung thư phổi nếu được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn sớm sẽ có tiên lượng tương đối tốt. Theo một số nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ sống thêm 5 năm ở các bệnh nhân ung thư phổi được phẫu thuật có thể đạt 30% và thậm chí 70% ở các bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn 0 và I [8]. Điều trị phẫu thuật chủ yếu là cắt phân thuỳ, cắt thuỳ phổi hay cắt cả phổi chứa khối u và nạo vét hạch [9]. Trên thế giới từ những năm 50 của thế kỷ XX đã có các công trình nghiên cứu đánh giá sự thay đổi chức năng hô hấp sau phẫu thuật phổi. Bigler (2003) cho rằng trong khoảng 3 tuần sau mổ chức năng hô hấp giảm khoảng 50% so với trước mổ cả về 3 thông số: FEV1, FVC và FRC [10]. Bolliger (1996) cho rằng sau mổ FEV1, FVC giảm nhiều trong 3 tháng đầu và cải thiện hơn sau 6 tháng tuy nhiên nhóm cắt thuỳ phổi hồi phục tốt hơn nhóm cắt phổi [11].

          Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu của Công Thị Kim Khánh (1995), Nguyễn Bích Ngọc (1996), Dương Nguyệt Vân (2014)về sự thay đổi chức năng hô hấp của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật cắt bỏ một phần phổi, kết quả cho thấy có sự suy giảm chức năng thông khí rõ rệt [12], [13], [14]. Năm 2008, Nguyễn Thế Trí đã nghiên cứu vai trò ghi hình tưới máu phổi kết hợp với thăm dò chức năng thông khí phổi để tiên lượng chức năng hô hấp sau phẫu thuật cắt bỏ một phần phổi, giúp tiên lượng phẫu thuật phổi được chính xác và an toàn hơn [15]. Các nhóm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các chỉ số FVC, FEV1 và VC, chưa có nhóm nào nghiên cứu về các chỉ số TLC, RV và TLCO. Theo Mark (2010) và nhiều tác giả khác cho rằng giá trị của FEV1 và TLCO là những yếu tố dự báo tốt nhất về biến chứng hô hấp hậu phẫu  cho bệnh nhân phẫu thuật cắt thùy phổi [16].