Nghiên cứu các thông số tạo nhịp tim tại vị trí mỏm thất phải và vách liên thất

Chuyên ngành: Nôi Tim mạch

Tên hướng dẫn: TS. Phạm Như Hùng - PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn

Tên tác giả: ĐÀO HỒNG QUÂN

Ngày gửi: 04-12-2017 02:42 PM

Cập nhật cuối: 04-12-2017 02:42 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

          Rối loạn nhịp tim (RLNT) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của các bệnh tim mạch [1]. Tại Viện Tim mạch Việt Nam, tỉ lệ tử vong do RLNT chiếm 38,8% [2],[3]. Trong điều trị rối loạn nhịp cùng với việc sử dụng các loại thuốc chống loạn nhịp, sốc điện, triệt bỏ cầu dẫn truyền phụ bằng sóng cao tần thì cấy máy tạo nhịp đóng vai trò quan trọng. Tạo nhịp tim là một máy phát xung điện theo một tần số để kích thích tim bóp theo tần số đó [4].

           Trên thế giới tạo nhịp tim đầu tiên vào năm 1932 [5]. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ điện tử, điện sinh lý học đã làm cho máy tạo nhịp tim có bước tiến vượt bậc: từ máy tạo nhịp ngoài cơ thể cải tiến máy tạo nhịp một buồng cấy trong da đến máy tạo nhịp hai buồng, ba buồng có thể kết hợp với  sốc điện chuyển nhịp.

           Hàng năm trên thế giới có trên 400.000 máy tạo mới được cấy ở khắp các trung tâm trên thế giới [3]. Tại Mỹ có khoảng 450.000 bệnh nhân tương đương với 0.26 % dân số Mỹ sống chung với máy tạo nhịp [6],[5].

 Ở Việt Nam, điều trị bằng cấy máy TNT đã được nghiên cứu ứng dụng lần đầu tiên năm 1973 bởi các tác giả Vũ Văn Đính, Trần Đỗ Trinh và Đặng Hanh Đệ [7], tiếp đó là Nguyễn Mạnh Phan và một vài tác giả khác.

         Đến nay số bệnh nhân được cấy máy tạo nhịp từ một buồng, hai buồng đã tăng lên hàng chục nghìn trường hợp trong cả nước. Phần lớn những bệnh nhân này được chỉ định cấy máy tạo nhịp để điều trị rối loạn nhịp chậm gồm: rối loạn chức năng nút xoang do bất thường chức năng nút xoang hoặc rối loạn dẫn truyền nhĩ thất do hệ dẫn truyền bị tổn thương hoặc bất thường trong quá trình tạo xung động hoặc cả hai gây nên tình trạng nhịp tim chậm có thể ngất hoặc ngừng tim. Các loại thuốc tăng nhịp điều trị rối loạn nhịp chậm hiện nay không duy trì ổn định được nhịp tim cũng như có nhiều tác dụng không mong muốn vì vậy tạo nhịp tim là phương pháp chính điều trị rối loạn nhịp chậm. Trong quá trình cấy máy tạo nhịp việc xác định ngưỡng tạo nhịp, độ nhạy cảm, trở kháng điện cực, sóng tổn thương cũng như chiều cao sóng tổn thương trong và sau cấy máy là vô cùng quan trọng. Chúng liên quan trực tiếp đến vị trí cố định đầu dây điện cực. Việc tối ưu hóa các thông số tạo nhịp trên giúp giảm thời gian cấy máy, giúp cho máy tạo nhịp hoạt động ổn định lâu dài hơn, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.