Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật theo dõi áp lực OXY nhu mô Não bằng hệ thống LICOXĐ trong tiên lượng và điều trị bệnh nhân đột quỵ Não cấp nặng

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: TS. NGUYỄN ANH TUẤN - PGS. TS. ĐỒNG VĂN HỆ

Tên tác giả: TRẦN NHẬT TUÂN

Ngày gửi: 26-12-2017 04:41 PM

Cập nhật cuối: 26-12-2017 04:41 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


đặt vấn đề

 

Tế bào thần kinh là những tế bào rất nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy. Các tế bào thần kinh tiêu thụ đến hơn 20% tổng lượng oxy trong cơ thể [1]. Trong chảy máu não cũng như trong nhồi máu não, luôn tổn tại vùng có nguy cơ tổn thương bên cạnh ổ tổn thương nguyên phát gọi là vùng “nửa tối” [2], [3]. Đây là những vùng có khả năng hồi phục được nếu được điều trị đúng đắn và kịp thời. Vì vậy, việc điều trị sớm là rất cần thiết - “Thời gian là não”.

Trong đột quỵ não, nhất là đột quỵ não nặng, rất nhiều cơ chế đã góp phần làm nặng thêm tình trạng bệnh như: thiếu máu cục bộ, tắc vi mạch, rối loạn chức năng ty thể, phù nề do gây độc tế bào [4]. Điều này làm cho chuyển hoá oxy của tế bào thần kinh bị rối loạn, gây ra những thương tổn thứ phát. Các rối loạn này, nếu được xử trí thì tế bào thần kinh có thể hồi phục. Còn ngược lại, cái giá phải trả có thể là thương tổn vĩnh viễn của các tế bào thần kinh, làm ảnh hưởng đến kết cục và chất lượng cuộc sống sau này.

Mục tiêu của mọi điều trị trong đột quỵ não là tránh những tổn thương thứ phát này. Nói cách khác, chúng ta đang làm mọi cách để bảo vệ những vùng có nguy cơ bị tổn thương bên cạnh những ổ tổn thương nguyên phát khó có thể hồi phục. Nhằm hỗ trợ cho mục tiêu này, từ trước đến nay có rất nhiều những phương pháp theo dõi chuyển hoá oxy của não đã ra đời kể cả gián tiếp lẫn trực tiếp. Cái đích chung nhắm đến của những phương pháp theo dõi này đều là duy trì lượng oxy cần thiết cho các tế bào thần kinh hoạt động.

Tại Việt Nam, trước đây, hồi sức thần kinh chủ yếu chỉ dựa vào việc theo dõi áp lực trong sọ và áp lực tưới máu não. Những phương pháp này đang dần bộc lộ những điểm yếu. Theo dõi chuyển hoá oxy của não còn là vấn đề mới. Một số nghiên cứu trong nước đã đánh giá chuyển hoá oxy dựa vào chỉ số bão hoà oxy tĩnh mạch cảnh trong - SjO2. Tuy nhiên, chỉ số này vẫn còn nhiều hạn chế như: có sự pha trộn của tĩnh mạch bên đối diện với tĩnh mạch ngoài sọ; vì là biện pháp gián tiếp nên phương pháp này ít nhạy cảm trong việc phát hiện tình trạng thiếu oxy cục bộ [5]. Chính vì vậy, việc ra đời của các phương pháp theo dõi chuyển hoá oxy mới là điều tất yếu. Một trong số đó chính là phương pháp theo dõi trực tiếp áp lực oxy nhu mô não. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, phác đồ kết hợp giữa theo dõi áp lực trong sọ và áp lực oxy nhu mô não giúp làm giảm tỷ lệ tử vong, thay đổi kết cục của điều trị [6], [7].