Nghiên cứu áp dụng hệ thống thở OXY lưu lượng cao ở bệnh nhân có nguy cơ phải đặt lại nội khí quản sau rút ống

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: TS. BS. Đỗ Ngọc Sơn

Tên tác giả: ĐÀO THỊ HƯƠNG

Ngày gửi: 20-11-2017 03:55 PM

Cập nhật cuối: 20-11-2017 03:55 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Đặt lại nội khí quản sau rút ống là vấn đề thường gặp trong thông khí nhân tạo, đặc biệt là ở những bệnh nhân nặng. Việc đặt lại NKQ làm kéo dài thời gian điều trị tại ICU, tăng tỷ lệ viêm phổi bệnh viện, tăng nguy cơ tử vong.[1],[2], [3], [4].Tỷ lệ tử vong do đặt lại nội khí quản sau rút ống  có thể lên tới >40% . Nhiều nghiên cứu trên thế giới thấy rằng khoảng 18 - 30% các bệnh nhân sau rút ống phải đặt lại nội khí quản mặc dù trước rút đã được chuẩn bị và dự phòng đầy đủ các yếu tố nguy cơ.[5]  Đặc biệt là trên những đối tượng có nguy cơ cao tỷ lệ đặt lại nội khí quản có thể lên tới 47%. [6] Nguyên nhân đặt lại nội khí quản thường gặp là: co thắt thanh quản, phù nề thanh môn, đờm đặc, số lượng nhiều, tình trạng suy giảm ý thức, mệt cơ hô hấp, huyết động không ổn định, tâm lý không thoải mái, giảm oxy máu do tình trạng hô hấp không ổn định...[5],[7]. Hiện nay có rất nhiều quan điểm, bảng điểm dự đoán yếu tố nguy cơ thất bại rút ống cũng như đặt lại ống.[6], [13],[14].

 Một trong những kỳ vọng giúp giảm tỷ lệ đặt lại nội khí quản là những bệnh nhân sau rút ống cần được hỗ trợ thở oxy hoặc nặng hơn là thở máy không xâm nhập.[1] ,[3],[7], [8].Để an toàn, các khí y tế luôn được làm khô với độ ẩm rất thấp, mặt khác nồng độ oxy biến động do các dụng cụ sử dụng có lưu lượng thấp. Với những bệnh nhân phải thở oxy lưu lượng cao hoặc những bệnh nhân sau rút ống còn tình trạng mệt cơ hô hấp cần một mức áp lực dương nhỏ hỗ trợ hô hấp và làm loãng đờm, khoảng mũi miệng sẽ không kịp làm ấm và ẩm luồng khí trước khi vào phổi sẽ gây khô khoang mũi miệng, khô đờm và nồng độ oxy cung cấp không đủ nhu cầu, không có mức áp lực hỗ trợ làm ảnh hưởng đến hô hấp. Thở BiPAP hoặc CPAP đã chứng minh có hiệu quả cho những bệnh nhân sau rút ống nhưng phương pháp hỗ trợ này cũng gặp một số biến chứng bất lợi cho người bệnh như: khó chịu do mask, chướng bụng, không thuận tiện cho chăm sóc...[9, 10],[11],[8] Hệ thống oxy lưu lượng cao được làm ấm và ẩm (HHFNC) là một phương pháp hỗ trợ hô hấp đang được ứng dụng ngày càng nhiều ở khoa Cấp cứu. Hệ thống này có ưu điểm kiểm soát FiO2 chính xác (21-100%), cho phép điều chỉnh tốc độ dòng khí thở vào từ 10-120 lít/phút, tạo ẩm, làm ấm, cung cấp áp lực dương 4 - 12 cmH2O khi bệnh nhân ngậm miệng thở để hỗ trợ hô hấp. Cấu trúc khá đơn giản, do vậy dễ sử dụng, dễ dung nạp, chỉ sử dụng kính áp vào mũi giúp bệnh nhân thoải mái khi áp dụng hệ thống hỗ trợ này, độ ẩm cao giúp làm loãng đờm, tránh khô niêm mạc[12] . Hệ thống này đã được chứng minh hiệu quả tương đương thông khí không xâm nhập là phương pháp hỗ trợ phù hợp. Trên thế giới, phương pháp HHFNC ngày càng được sử dụng rộng rãi cho các bệnh nhân sau rút ống và đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giảm tỷ lệ phải đặt lại NKQ so với việc sử dụng oxy thông thường có ý nghĩa thống [7, 11],[13],[14]