Khảo sát sự thay đổi nồng độ CYSTATIN C huyết thanh ở bệnh nhân sau can thiệp động mạch Vành

Chuyên ngành: Nôi Tim mạch

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC QUANG

Tên tác giả: NGUYỄN MINH CHÂU

Ngày gửi: 18-12-2017 10:41 AM

Cập nhật cuối: 18-12-2017 10:41 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Bệnh động mạch vành (ĐMV) là tình trạng bệnh lý khá thường gặp ở các nước phát triển và đang có xu hướng gia tăng ở các nước phát triển.Theo ước tính ở Mỹ hiện có khoảng 7 triệu người bị đau thắt ngực và khoảng 1 triệu bệnh nhân nhập viện mỗi năm vì nhồi máu cơ tim. Trong đó HCVC, đặc biệt là nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Hoa Kỳ và các nước Châu Á phát triển, khoảng 200000 đến 300000 bệnh nhân tử vong vì NMCT cấp [73,74]. Ở Việt Nam số bệnh nhân (BN) mắc ĐMV ngày càng có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh ĐMV năm 1991 là 3%, năm 1996 là 6.1% và năm 1999 là 9.5% [62,73,75].

Hiện nay, can thiệp ĐMV qua da cùng với những tiến bộ của thuốc cũng như stent mới hiệu quả hơn đã làm giảm tỷ lệ tử vong (TV) do NMCT từ 30% xuống khoảng 7% [73]. Can thiệp ĐMV qua da là phương pháp điều trị bệnh ĐMV có hiệu quả nhất, làm giảm tỷ lệ TV và ngày càng được áp dụng rộng rãi khi có chỉ định [81].

Tuy nhiên vì can thiệp ĐMV qua da là phương pháp chảy máu và phải sử dụng thuốc cản quang đường động mạch bơm trực tiếp thuốc cản quang vào ĐMV để bộc lộ tổn thương. Vì vậy, một trong những biến chứng có thể gặp trong sau can thiệp mạch vành đó là suy giảm chức năng thận cấp do thuốc cản quang (bệnh thận do thuốc cản quang: BTDTCQ). Đây là một biến chứng hay gặp nhưng chưa được chú ý đúng mức [46,47]. Tình trạng này hay xảy ra với những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như tiền sử bị suy thận, huyết động không ổn định, đái tháo đường, suy tim, tuổi cao và những yếu tố này hay kèm theo nguy cơ mạch vành.