Khảo sát nồng độ ACID URIC và đánh giá hiệu quả đào thải ACID URIC bằng một số phương thức lọc máu ở bệnh nhân Thận nhân tạo chu kỳ

Chuyên ngành: Nội khoa

Tên hướng dẫn: TS.BS Đặng Thị Việt Hà - TS.BS Nguyễn Hữu Dũng

Tên tác giả: HOÀNG ANH TRUNG

Ngày gửi: 10-11-2017 04:46 PM

Cập nhật cuối: 10-11-2017 04:46 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hoá tiến triển mạn tính qua nhiều năm, hậu quả của sự xơ hoá các nephron, gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu như ure, creatinin. Khi mức lọc cầu thận <15 ml/phút bệnh nhân cần được điều trị thay thế thận suy bằng lọc máu hoặc ghép thận [1] [2] [3].

Lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ là một phương pháp điều trị thay thế thận suy thông dụng cho các trường hợp suy thận giai đoạn cuối. Thận nhân tạo được áp dụng phổ biến vì kỹ thuật không phức tạp, hiệu quả cao, song hạn chế là bệnh nhân phụ thuộc vào máy. Bản thân thận nhân tạo chỉ giải quyết được rút nước dư thừa và đào thải các chất độc hòa tan. Bệnh nhân lọc máu kéo dài thường xuất hiện các biến chứng liên quan như suy tim mạn tính, bệnh lý thần kinh, xương khớp, trong đó phải kể đến các biến chứng do ứ đọng acid uric máu, beta 2-Microglobulin,… [4] [5] [6].

Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái biến Purine và được đào thải ra ngoài qua thận. Bình thường lượng acid uric trong máu luôn được giữ ổn định ở nồng độ dưới 7,0 mg/dl (420 mmol/l) và được giữ ở mức hằng định do sự cân bằng giữa quá trình tổng hợp và đào thải chất này. Suy thận làm giảm bài xuất acid uric ở ống thận, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ. Lắng đọng acid uric không gây tử vong, nhưng là nguyên nhân đau khớp, ảnh hưởng đến chức năng hệ vận động và chất lượng cuộc sống của bệnh. Vì vậy việc tăng đào thải acid uric thông qua các kỹ thuật lọc máu là rất quan trọng.