Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nang giả Tụy ở bệnh nhân sau viêm Tụy cấp

Chuyên ngành: Nội khoa

Tên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Thị Vân Hồng

Tên tác giả: SOEUNG SOPHANY

Ngày gửi: 09-11-2017 11:30 AM

Cập nhật cuối: 09-11-2017 11:30 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Nang giả tụy (NGT) là tổn thương dạng nang hay gặp nhất của tuyến tụy và là biến chứng của viêm tụy cấp (VTC) hoặc viêm tụy mạn. NGT được Morgagni và cộng sự mô tả lần đầu tiên vào năm 1761 [1]. Từ đó việc nghiên cứu nguyên nhân, bệnh sinh, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị NGT ngày càng hoàn thiện hơn. NGT là cấu trúc dạng nang khu trú vùng quanh tụy, được bao bọc với thành nang là lớp xơ hay tổ chức hạt mà không có tế bào biểu mô, dịch của NGT giầu Amylase và các enzyme tụy khác [2],[3]. Giai đoạn hình thành NGT thường là >4 tuần từ khi bắt đầu có triệu chứng VTC và trong thời gian này thì 33% nang được dự kiến sẽ tự khỏi. Tuy nhiên các trường hợp không có khả năng tự mất, có thể gây ra các triệu chứng như đau bụng, chán ăn, buồn nôn, nôn, xuất huyết tiêu hóa (XHTH) cao.... nếu nghiêm trọng hơn thì gây ra các biến chứng như nhiễm trùng, xuất huyết trong và ngoài nang hoặc vỡ nang…đe dọa tính mạng bệnh nhân [3],[4].

Nguyên nhân của NGT liên quan chặt chẽ với nguyên nhân của VTC như: thứ phát sau viêm đường mật tụy, VTC do rượu, phẫu thuật, chấn thương và do vô căn. Đa số trường hợp do vô căn thì được người ta nghĩ rằng là có liên quan với rượu, tuy nhiên không có bằng chứng chính xác được báo cáo [3]. Ở Việt Nam, những năm gần đây VTC có xu hướng gia tăng và gây biến chứng thành NGT cũng khá thường gặp.

Một số NGT không gây ra triệu chứng lâm sàng cho nên trước khi có sự phát triển các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như: siêu âm (SA), siêu âm nội soi, chụp đường mật-tụy ngược dòng (ERCP), chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ổ bụng, việc chẩn đoán NGT gặp rất nhiều khó khăn mà chủ yếu dụa vào thăm khám lâm sàng với các triệu chứng không đặc hiệu và dấu hiệu cận lâm sàng mang tính chất gợi ý. Do vậy chẩn đoán không kịp thời, độ tin cậy không cao, nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán sau khi phẫu thuật hoặc khám nghiệm tử thi.