Giá trị của chuỗi xung cộng hưởng từ khuếch tán và tưới máu trong chẩn đoán phân biệt U nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái Voi u di căn não đơn ổ

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Duy Huề

Tên tác giả: THÂN VĂN SỸ

Ngày gửi: 09-11-2017 11:59 AM

Cập nhật cuối: 09-11-2017 11:59 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

U nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái (GBM - Glioblastoma multiforme) và u di căn não (UDCN) là những khối u não phổ biến nhất ở người trưởng thành. Theo nhiều tác giả trên thế giới UDCN chiếm 30-50% các trường hợp u não nói chung, trong đó có khoảng 25-30% trường hợp là những khối u đơn độc. GBM chiếm khoảng 15% trong số các khối u não nguyên phát tương đương khoảng 50-75% u thần kinh đệm. Với các trường hợp di căn đa ổ hoặc bệnh nhân có tiền sử bệnh lý ác tính trước đó sẽ dễ dàng chẩn đoán trên cộng hưởng từ (CHT) thường quy. Tuy nhiên với các khối di căn đơn ổ rất khó phân biệt với GBM vì cả hai loại tổn thương này đều thường biểu hiện là các ổ tổn thương dạng nang có hoại tử ở trong, thành dày không đều, có viền phù não rộng, ngấm thuốc dạng viền, kèm theo thường có vôi hóa, chảy máu [1-3]. Hơn nữa, các triệu chứng thần kinh của u di căn não là biểu hiện đầu tiên của gần 30% số các trường hợp bệnh lý ung thư [4]. Theo nhiều tác giả tỷ lệ chẩn đoán sai trên CHT thường quy có thể lên tới hơn 40% [5-8]. Việc phân biệt hai loại u này trước khi phẫu thuật giúp các nhà lâm sàng xây dựng được kế hoạch điều trị chính xác và phù hợp hơn [9]. Trong những năm vừa qua, với sự phát triển của kỹ thuật cộng hưởng từ phổ (MRS – Magnetic resonance spectroscopy), cộng hưởng từ khếch tán (DWI – Diffusion weighted imaging), cộng hưởng từ sợi trục (DTI – Diffusion tensor imaging) và cộng hưởng từ tưới máu (PWI – Perfusion weighted imaging) đem lại những thông tin về đặc điểm khối u, giúp nhận định về bản chất, tính chất chuyển hóa cũng như phân biệt nguồn gốc của các khối choán chỗ trong sọ [1-10].