Đánh giá nồng độ CEA trước và sau điểu trị Ung Thư Đại Trực Tràng tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN VĂN HIẾU

Tên tác giả: PHẠM THỊ PHƯƠNG

Ngày gửi: 16-11-2017 09:11 AM

Cập nhật cuối: 16-11-2017 09:11 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

  UTĐTT là bệnh lý ác tính hay gặp của đường tiêu hóa, chiếm  5%-8% các loại ung thư [1]. Theo báo cáo của WHO năm 2012, có 1.360.602 ca mới được chẩn đoán và gần 693.933 ca tử vong do UTĐTT [2]. Bệnh gặp nhiều ở các nước phát triển và có xu hướng ngày càng tăng ở các nước đang phát triển. Quần thể sống ở thành thị có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn ở nông thôn. Tỉ lệ mắc UTĐTT đứng thứ 3 (10%), đứng thứ tư về tỉ lệ tử vong (8,5%) năm 2012 [3]. Ước tính hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 780.000 ca mới mắc và hơn 440.000 ca chết vì UTĐTT [4], [5].

Tại Việt Nam, UTĐTT đứng thứ ba trong các ung thư về đường tiêu hóa sau ung thư gan và ung thư dạ dày, tỉ lệ mắc đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và tăng  ở cả hai giới. Tỉ lệ mắc theo tuổi là 7,5/100.000 dân [6]. Tỉ lệ mắc ở nam cao hơn nữ. Tại Hà Nội, UTĐTT và hậu môn đứng thứ 5 ở cả hai giới sau ung thư phổi, dạ dày, gan, và vú (nữ) [6]. Tỉ lệ mới mắc UTĐTT của người Hà Nội giai đoạn 2001-2004 ở nam là 7,8/100.000 dân, ở nữ là 7,5/100.000 dân, đến giai đoạn 2004-2008 tỉ lệ này lần lượt là 16,9/100.000 dân và 15,6/100.000 dân [7]. UTĐTT đang  trở thành vấn đề đáng quan tâm của cộng đồng và toàn xã hội.

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây UTĐTT như chế độ ăn nhiều thịt, ít chất xơ..., các tổn thương tiền ung thư như viêm đại trực tràng chảy máu, polyp... và các hội chứng ung thư di truyền.