Đánh giá kết quả xạ trị và hóa trị trong Ung Thư Cổ Tử Cung tái phát, di căn

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS. BS BÙI DIỆU

Tên tác giả: ĐẶNG THỊ VIỆT BẮC

Ngày gửi: 27-12-2017 10:16 AM

Cập nhật cuối: 27-12-2017 10:17 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư cổ tử cung (UT CTC) là một trong ba ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới, sau ung thư vú và ung thư đại trực tràng. Theo thống kê của tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu IARC (Globocan 2012) ước tính có khoảng 528.000 ca mới mắc UT CTC (chiếm 12% tổng số ung thư mới mắc ở nữ giới), và 266.000 ca tử vong (chiếm 7,5% tổng số chết vì ung thư ở nữ). Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng khu vực địa lý và tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nguy cơ. Hơn 85% các trường hợp mới mắc và tử vong ở các nước đang phát triển [1],[2],[3].

Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung hiện đứng thứ tư trong các bệnh ung thư ở nữ giới sau ung thư vú, phế quản và gan. Mỗi năm có khoảng 14.200 bệnh nhân mắc mới và có khoảng 12.900 bệnh nhân chết do căn bệnh ung thư cổ tử cung (Globocan 2012- IARC). Theo ghi nhận ung thư tại Hà nội trong 20 năm (1988 đến 2007), trong số 28.672 số trường hợp phụ nữ bị ung thư thì có 2.093 trường hợp ung thư cổ tử cung chiếm 7,3% tổng số ung thư ở nữ với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi ASR là 6,8/100.000 dân [4],[6],[7],[7].

Mặc dù, đã có nhiều tiến bộ trong các biện pháp sàng lọc nhằm phát hiện sớm cũng như các tiến bộ trong điều trị ung thư cổ tử cung [1],[8],[9],  vẫn còn có một tỷ lệ nhất định các bệnh nhân xuất hiện tái phát, di căn, đặc biệt nhóm bệnh ở giai đoạn muộn. Với những trường hợp tái phát khu trú tại chỗ, phẫu thuật không có chỉ định điều trị ngay từ ban đầu nên lúc này PT chủ yếu đóng vai trò điều trị triệu chứng. Xạ trị kết hợp hóa trị thường được lựa chọn. Hóa trị với các phác đồ có nhóm platin và taxan được ưu tiên hàng đầu. Hóa trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư tái phát tại chỗ và cả các tế bào di căn xa. Do tổ chức ung thư cổ tử cung ít nhạy cảm với hóa trị, nên khi tái phát tại chỗ thì tác dụng của hóa trị không cao, chủ yếu phối hợp xạ trị làm tăng tác dụng hiệp đồng khi điều trị. Do đó, đối với khối tái phát tại chỗ thì xạ trị trong đó xạ trị áp sát vẫn đóng vai trò quan trọng vì các phương pháp điều trị khác thường mang lại ít hiệu quả. Mục tiêu nhằm nâng tối đa liều tại chỗ, tăng khả năng tiêu diệt tổ chức ung thư. Gần đây nhờ tiến bộ của công nghệ kỹ thuật số và sự phát triển không ngừng của kỹ thuật xạ trị. Xạ trị áp sát suất liều cao với nguồn Irridium-192 ( Ir-192) đã dần thay thế xạ trị áp sát suất liều thấp cho kết quả điều trị tối ưu, hạn chế các tác dụng phụ tại chỗ [9],[10],[11],[12],[13]. Chính vì vậy, đối với những trường hợp tái phát tại chỗ, tại vùng sau điều trị ban đầu trên một năm, dù bệnh nhân đã điều trị ban đầu bằng xạ trị thì khả năng xạ trị áp sát lần hai vẫn còn, mở ra cơ hội kéo dài sống còn, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [14], [16], [17], [18], [19], [20].