Đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến nước bọt Mang Tai tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: TS. Bùi Thị Mỹ Hạnh

Tên tác giả: LƯU KIM TRỌNG

Ngày gửi: 17-11-2017 03:43 PM

Cập nhật cuối: 17-11-2017 03:43 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

U tuyến nước bọt được phát triển từ các tuyến nước bọt chính (tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi) hoặc các tuyến nước bọt phụ nằm dưới niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa trên. Phần lớn các u tuyến nước bọt xuất phát từ tuyến mang tai và chiếm 70- 80% các u tuyến nước bọt nói chung. Các u tuyến nước bọt mang tai ác tính chỉ chiếm 20 - 25% [1], còn lại là các u lành tính (chiếm 80%), hay gặp nhất là u tuyến đa hình [2]. Trong các ung thư vùng đầu cổ ở người lớn, ung thư tuyến nước bọt mang tai chỉ chiếm 3-6% các trường hợp, tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 1-3 người/100.000 người/năm [1],[2]. Nhiễm phóng xạ hoặc phơi nhiễm với một số tác nhân bệnh nghề nghiệp là yếu tố nguy cơ của ung thư tuyến nước bọt. Biểu hiện lâm sàng của u tuyến nước bọt mang tai thường nghèo nàn, dễ nhầm với những tổn thương viêm hoặc các hạch to vùng mang tai, khi được chẩn đoán thì phần lớn các trường hợp có khối u đã lớn, lan rộng ra mô xung quanh, gây khó khăn cho việc điều trị vì ảnh hưởng nặng nề đến chức năng và thẩm mỹ cũng như nguy cơ biến chứng và tái phát, đặc biệt là các u ác tính. Vì vậy, để xác nhận được có u của TMT hay không ngoài thăm khám lâm sàng, cần có các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (MRI) để hỗ trợ chẩn đoán. Siêu âm là phương pháp phổ biến, thuận tiện, cho phép đánh giá nhiều thông số của khối u, đưa ra nhận định ban đầu về bản chất u lành hay ác tính. Hạn chế của siêu âm chỉ đánh giá được xâm lấn u vào các tổ chức phần mềm mà không đánh giá được sự xâm lấn vào tổ chức như xương, thần kinh… cũng như phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người làm siêu âm. Chụp CLVT và MRI chưa được sử dụng như một thăm dò thường quy trong bệnh lý u tuyến nước bọt nhưng đây là 2 phương pháp khách quan, cho phép xác định tương đối chính xác bản chất u, hỗ trợ việc đánh giá di căn hạch và mức độ xâm lấn của u [3]. Tế bào học hoặc sinh thiết kim làm giải phẫu bệnh có thể giúp xác định chính xác nhất bản chất u lành hay ác tính và phân biệt ung thư nguyên phát hay di căn.

Các u tuyến nước bọt nói chung và TMT nói riêng chủ yếu là các u biểu mô. Dù lành hay ác tính thì phương pháp điều trị chủ yếu vẫn là phẫu thuật. Phương pháp phẫu thuật và kết quả của phẫu thuật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước u, giai đoạn bệnh, bản chất u lành hay ác tính cũng như từng typ mô bệnh học…