Đánh giá kết quả phẫu thuật TRAVERSO - LONGMIRE trong điều trị một số bệnh lý vùng đầu tụy Tá Tràng tại bệnh viện Bạch Mai

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Tên hướng dẫn: TS. Trần Mạnh Hùng - PGS. TS. Trần Hiếu Học

Tên tác giả: KEANG TOLA

Ngày gửi: 04-12-2017 03:10 PM

Cập nhật cuối: 04-12-2017 03:10 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Phẫu thuật cắt đầu tuỵ tá tràng được mô tả đầy đủ đầu tiên bởi phẫu thuật viên người Mỹ Allen Whipple vào năm 1935. Kỹ thuật bao gồm: cắt bỏ khối tá tràng, đoạn đầu hỗng tràng, đầu tụy, ống mật chủ, túi mật, một phần dạ dày [1],[2]. Phẫu thuật này được áp dụng để điều trị cho các tổn thương ác tính vùng đầu tuỵ, tá tràng (ung thư biểu mô đường bài xuất của tuỵ, ung thư biểu mô bóng Vater, ung thư ống mật chủ, ung thư tá tràng,…) và các tổn thương có nguy cơ ác tính tiềm tàng (u nhú ống tuyến và niêm mạc tuỵ khu trú hoặc dạng nang nhày). Ngoài ra còn được chỉ định ở một số trường hợp khối viêm tuỵ mạn, hẹp tá tràng, chấn thương, vết thương tuỵ tùy thuộc mức độ tổn thương, hoàn cảnh cụ thể [3].

Năm 1944, Kenneth Watson giới thiệu kỹ thuật cải tiến bảo tồn môn vị (để lại 2cm dưới môn vị của dạ dày) phẫu thuật cho một bệnh nhân bị ung thư bóng Vater [4].

Năm 1978, Longmire và Traverso cải tiến hoàn chỉnh phẫu thuật kinh điển thành phẫu thuật cắt tá tuỵ có chừa lại dạ dày và môn vị nhằm tránh hội chứng sau cắt dạ dày và loét miệng nối [5],[6]. Lúc đầu có nhiều tác giả sợ là mổ theo phương pháp này không đủ rộng để lấy đi hết tổ chức ung thư nhưng có nhiều nghiên cứu khẳng định kết quả của phương pháp này không có khác biệt với phẫu thuật Whipple kinh điển về điểm này [2],[7],[8],[9]. Phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng có hay không bảo tồn môn vị là một phẫu thuật lớn và phức tạp. Theo nhiều nghiên cứu trong thập niên 90 cho thấy tỷ lệ tử vong sau mổ tới 15% [6]. Nhưng hơn một thập niên trở lại đây ở trung tâm phẫu thuật lớn tỷ lệ tử vong sau mổ đã giảm < 5% [10],[11],[12].