Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt Bàng Quang bán phần điều trị Ung Thư Bàng Quang tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2010 - 2017

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Trường Thành

Tên tác giả: PHẠM VĂN THUYÊN

Ngày gửi: 18-12-2017 02:43 PM

Cập nhật cuối: 18-12-2017 02:43 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

 

Ung thư bàng quang là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh ung thư của hệ tiết niệu. Theo một thống kê của Hiệp hội quốc tế chống ung thư, ung thư bàng quang có tần xuất khá cao trên thế giới [1]. Trong năm 1990 số liệu thống kê cho thấy đã phát hiện 47100 trường hợp ung thư bàng quang mới tại Hoa Kỳ Trên nam giới, ung thư bàng quang chiếm tỷ lệ 10% và chiếm thứ 4 trong các loại ung thư, sau ung thư tuyến tiền liệt, phổi và đại trực tràng. Trên nữ giới, ung thư bàng quang chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn 4% và đứng thứ 8 trong bệnh lý ung thư. Tỷ lệ nam/nữ của ung thư bàng quang là 2,7. Một thống kê khác năm 2003 cho thấy trong năm này có 57000 trường hợp mới tại Hoa Kỳ [2], [3], [4].

Ở Việt Nam, số người bị mắc bệnh u bàng quang có xu hướng tăng cao theo mức độ phát triển của công nghiệp nhất là công nghiệp hoá chất, chế biến cao su [5].

Tại bệnh viện Việt - Đức trong 10 năm (1982-1991) có 211 trường hợp u bàng quang được điều trị, thì trong 5 năm sau (1992-1996) đã có 255 trường hợp mắc mới và trong 3 năm (2000-2002) tại khoa Tiết niệu đã điều trị phẫu thuật cho 427 bệnh nhóm u bàng quang, trong đó 51,75% là u tái phát và 48,25% là u mới phát hiện, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại ung thư đường tiết niệu [6], [7].

Triệu chứng lâm sàng ung thư bàng quang nghèo nàn, bệnh nhân thường vào viện vì đái máu. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi bàng quang, sinh thiết u và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Nội soi bàng quang có giá trị xác định vị trí, hình dáng, kích thước u, qua nội soi sinh thiết u để chẩn đoán mô bệnh học. Tuy nhiên để xác định mức độ xâm lấn của u tại thành bàng quang hoặc ra tổ chức xung quanh và tình trạng hạch vùng thì CT và MRI có vai trò quan trọng với độ chính xác cao [8], [9], [10].