Đánh giá kết quả điều trị Ung thư vú giai đoạn I-III tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lê Văn Quảng

Tên tác giả: Mai Thị Kim Ngân

Ngày gửi: 09-11-2017 10:49 AM

Cập nhật cuối: 09-11-2017 10:49 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới cả ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. Bệnh cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nữ giới thuộc các nước kém phát triển và đứng thứ hai ở các nước phát triển sau ung thư phổi. Theo GLOBOCAN 2012, năm 2012 có 1,67 triệu ca ung thư vú mới mắc ở nữ và 522.000 ca tử vong. Tỉ lệ mắc khác nhau giữa các vùng địa dư, từ 27/100.000 phụ nữ ở Trung Phi đến 92/100.000 phụ nữ ở Bắc Mỹ. Tỉ lệ tử vong cũng khác nhau giữa các vùng từ 6/100.000 trường hợp ở Đông Á đến 20/100.000 ở Đông Phi [1]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu gánh nặng bệnh ung thư và chiến lược phòng chống Ung thư quốc gia đến năm 2020 cho thấy ung thư vú là bệnh có tỷ lệ mắc mới cao nhất trong số các ung thư ở nữ giới, tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 28,1/100.000 phụ nữ [2].

Mặc dù công tác sàng lọc và chẩn đoán sớm ngày càng được quan tâm, tuy nhiên vẫn còn một số bệnh nhân đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn do triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, sự nhầm lẫn giữa u lành và u ác cũng như sự chủ quan của người bệnh. Phần lớn các bệnh nhân đến viện vì tự sờ thấy u vú, một số khác có thể xuất hiện tụt núm vú, sần da cam, chảy dịch núm vú, sờ thấy hạch nách,… [3]. Cho tới nay, khám lâm sàng, X-quang tuyến vú và tế bào học u vú vẫn là bộ ba chẩn đoán bệnh ung thư vú. Nghiên cứu tại bệnh viện K năm 2011-2012 thấy có 92% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn I-III nhưng có đến 64,5% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III [4].