Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật Ung Thư Đại Tràng ngang

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS. LÊ VĂN QUẢNG

Tên tác giả: TRẦN THỊ HẬU

Ngày gửi: 20-11-2017 11:11 AM

Cập nhật cuối: 20-11-2017 11:11 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Theo ghi nhận của WHO, ung thư đại trực tràng là ung thư phổ biến đứng thứ 3 về tỷ lệ mắc ở cả hai giới, đứng thứ 2 về tỷ lệ tử vong và trên 50% trong số đó là ung thư đại tràng. Theo SEER năm 2014 có khoảng 136.830 trường hợp ung thư đại trực tràng mới mắc trong đó 50.310 trường hợp tử vong [1]. Tại Việt Nam, theo số liệu năm 2010 cả nước có khoảng 5.434 người mới mắc đứng hàng thứ 4 ở cả hai giới, trong đó tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của nam và nữ tương ứng là 19,0 và 14,7 trên 100.000 dân [2].

 ĐT ngang là đoạn ĐT đi từ ĐT góc gan đến ĐT góc lách bao gồm ĐT góc gan, ĐT giữa và ĐT góc lách, chiếm 19,6% trong tổng số UTĐT [3]. Tuy nhiên, UTĐT ngang thường tiển triển âm thầm nên phần lớn bệnh nhân đến viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (hơn 60% bệnh nhân UTĐT ngang đến viện khi u đã ở giai đoạn T3, T4). Các triệu chứng của UTĐT ngang thường không đặc hiệu, vị trí giải phẫu đặc biệt có liên quan chặt chẽ với nhiều cơ quan bộ phận khác nên chẩn đoán UTĐT ngang còn gặp nhiều khó khăn, dễ nhầm với các bệnh lý khác đặc biệt là ung thư dạ dày. Theo nghiên cứu tại Nhật Bản, có khoảng 1%  UTĐT ngang chẩn đoán nhầm là ung thư dạ dày mà không có bất cứ sự khác biệt nào cả về triệu chứng lâm sàng [4]. Chẩn đoán UTĐT ngang dựa vào các triệu chứng lâm sàng, các bằng chứng về hình ảnh học và cuối cùng cần xác nhận của GPB. Tuy nhiên, ngay cả đến các phương pháp chẩn đoán hình ảnh mang tính khách quan và trung thực như nội soi cũng thì độ chính xác cũng chỉ có 55,6% trong chẩn đoán định khu ĐT ngang [5]. Do đó việc chẩn đoán định khu không chính xác sẽ gây khó khăn trong chiến lược phẫu thuật.