Đánh giá kết quả điều trị khối dị dạng động tĩnh mạch não vỡ hoặc có yếu tố nguy cơ chảy máu cao bằng nút mạch phối hợp phẫu thuật

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: GS.TS. PHẠM MINH THÔNG - TS. TRẦN ANH TUẤN

Tên tác giả: NGUYỄN HỮU AN

Ngày gửi: 10-11-2017 05:25 PM

Cập nhật cuối: 10-11-2017 05:25 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Dị dạng động - tĩnh mạch não (DDĐTMN) là dị dạng mạch não bẩm sinh phức tạp. Đây là bệnh lý hiếm gặp nhưng là nguyên nhân quan trọng của chảy máu não đặc biệt ở người trẻ tuổi [1]. Để quyết định điều trị DDĐTMN cần cân nhắc giữa nguy cơ diễn tiến tự nhiên của bệnh và nguy cơ khi tiến hành điều trị. Vào cuối năm 2014 nghiên cứu ARUBA [2] (là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng duy nhất so sánh điều trị nội khoa và can thiệp nói chung trên các DDĐTMN chưa vỡ) đưa ra khuyến cáo thì nguy cơ tử vong và di chứng của điều trị can thiệp nhìn chung cao hơn điều trị bảo tồn với các DDĐTMN chưa vỡ. Nguy cơ chảy máu theo năm đối với DDĐTMN có thể thấp khoảng 0.9% với các dị dạng chưa vỡ, vị trí ở nông, tĩnh mạch dẫn lưu nông nhưng cũng có thể cao khoảng 34% ở bệnh nhân có dị dạng đã vỡ, ở sâu với dẫn lưu sâu [3]. Bởi vì các dị dạng vỡ có nguy cơ chảy máu cao hơn (4.5%-34%) so với nguy cơ chưa vỡ trước đó (0.9%-8%) [4], điều trị can thiệp với các dị dạng vỡ được khuyến khích [5-7], dù chưa có bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng rằng các lợi ích cao hơn các nguy cơ [8]. Theo một nghiên cứu tiến cứu, đa trung tâm về điều trị can thiệp nội mạch DDĐTMN sử dụng vật liệu gây tắc dạng lỏng (nghiên cứu BRAVO 2013 [9]) thì tắc hoàn toàn dị dạng bởi nút mạch đơn thuần chỉ đạt được ở 23.5% bệnh nhân. Với các dị dạng được xếp loại Spetzler-Martin (SM) độ IV hay V cần thiết phải điều trị phối hợp nhiều phương pháp [4,6]. Vi phẫu thần kinh đã được báo cáo với nguy cơ biến chứng thấp 1-3% đối với các dị dạng SM độ I và II và kết quả khỏi tức thì [3]. Với các bệnh nhân có dị dạng SM độ III-IV ở vùng không chức năng thì nguy cơ của điều trị phẫu thuật cao hơn khoảng 17% còn các dị dạng SM độ III-V ở vùng chức năng khoảng 21% [10]. Bởi vậy việc phẫu thuật phối hợp với nút mạch được đặt ra với mục tiêu làm giảm nguy cơ trong mổ và cải thiện đầu ra lâm sàng của bệnh nhân. Nút mạch tiền phẫu đã được khẳng định cải thiện đầu ra sau phẫu thuật ban đầu là với N-butyl cyanoacrylate [11] và sau này với vật liệu nút mạch mới Onyx [9].