Đánh giá kết quả điều trị chấn thương Lách ở trẻ em tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2102 -2016

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Tên hướng dẫn: TS. Nguyễn Việt Hoa

Tên tác giả: VŨ NGỌC HẠNH

Ngày gửi: 27-12-2017 11:08 AM

Cập nhật cuối: 27-12-2017 11:08 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Lách là một tạng đặc, nằm trong ổ bụng ở vùng dưới sườn trái, trong chấn thương bụng - ngực chấn thương lách là thương tổn chiếm tỷ lệ cao nhất [1], [2], [3], [4], [5], [6], chính vì vậy việc điều trị chấn thương lách do chấn thương luôn là một vấn đề được quan tâm ở hầu hết các cơ sở ngoại khoa.

Trước đây, tất cả các trường hợp chấn thương lách đều được cắt bỏ, ngay cả khi chỉ là một thương tổn nhẹ, mặc dù những nguyên lý của việc điều trị không mổ chấn thương lách đã được biết tới ngay từ thế kỷ XVI (Zaccarelli 1549, Baloni 1578, Viard 1590), trường hợp cắt lách bán phần đầu tiên đã được Matthias thực hiện vào năm 1678.

Năm 1919, Morris và Bullook [7] đã lưu ý rằng cắt lách là một yếu tố làm cho con người dễ bị nhiễm khuẩn. Nhưng chỉ từ sau phát hiện của King và Shumaker [8] về tình trạng nhiễm khuẩn tối cấp gặp trên 5 trẻ em đã bị cắt lách mà ông gọi là “Hội chứng nhiễm khuẩn tối cấp sau cắt lách”, viết theo thuật ngữ tiếng Anh là OPSI (Overwhelming Post Splenectomy Infection), và sau đó là những hiểu biết ngày càng sâu hơn về chức năng của lách và đặc biệt là chức năng miễn dịch và thanh lọc máu của cơ thể [9], [10], [8], [11], [7], [12], thì vấn đề bảo tồn lách mới được đặt ra một cách có hệ thống.

Năm 1968, Upadhyaga và Simpon [13] thông báo 48 trường hợp điều trị chấn thương lách không mổ thành công ở trẻ em và sau đó phương pháp này đã được chú ý. Ngày nay phương pháp này đã trở thành một phương pháp điều trị được áp dụng rộng rãi trên thế giới.

Điều trị không mổ trong trường hợp chấn thương lách do chấn thương ở trẻ em khi tình trạng huyết động ổn định đã đem lại kết quả tốt [13], [14]. Tuy nhiên, việc áp dụng điều trị không mổ cho người lớn cho tỷ lệ thành công rất khác nhau và là vấn đề còn bàn cãi [15].