Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân Ung thư Vú tái phát, di căn thất bại với ANTHRACYCLIN, TAXAN bằng GEMCITABIN

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: TS. Lê Thanh Đức

Tên tác giả: NGUYỄN VĂN CHIỀU

Ngày gửi: 10-11-2017 09:30 AM

Cập nhật cuối: 10-11-2017 09:30 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Theo thống kê của Globocan 2012 ước tính mỗi năm có khoảng 1,67 triệu người trên thế  giới được chẩn đoán ung thư vú (UTV), tỷ lệ UTV chiếm vị trí hàng đầu (khoảng 25%) trong các loại ung thư ở phụ nữ. Số trường hợp tử vong ước tính khoảng 522.000 [1]. Ở Việt Nam năm 201085, UTV là loại ung thư hay gặp nhất ở nữ giới với 11.067 trường hợp UTV được chẩn đoán, chiếm 20,3% trong số các ung thư ở nữ giới, trong đó có 4.671 trường hợp tử vong, chiếm 13% [2]. Nhờ việc đẩy mạnh công tác phòng chống ung thư mà tỷ lệ UTV được phát hiện ở giai đoạn sớm đã tăng lên. Tuy nhiên vẫn có khoảng 5% -10% bệnh nhân (BN) đến khám với bệnh đã di căn xa [3]. Một số trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm sau điều trị triệt căn bệnh vẫn có thể tái phát  di căn (TPDC). Khi bệnh tới giai đoạn này thì mục đích của điều trị là kéo dài thời gian sống, giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống [4].

Trong các phương pháp điều trị nội khoa với UTV TPDC, bên cạnh điều trị nội tiết, điều trị đích kháng HER2 thì hóa trị cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với những trường hợp không đáp ứng điều trị nội tiết, hoặc thụ thể nội tiết âm tính, hoặc bệnh có yếu tố nguy cơ cao. Hóa trị được lựa chọn đầu tiên cho UTV TPDC là nhóm taxan và anthracyclin. Khi bệnh đã kháng với hai nhóm thuốc này thì các lựa chọn tiếp theo có thể là phác đồ phối hợp thuốc hoặc các phác đồ đơn thuốc. Tuy các phác đồ phối hợp thuốc có đem lại đáp ứng cao hơn nhưng thường đi kèm với độc tính cao hơn mà không có sự khác biệt về thời gian sống thêm toàn bộ. Các phác đồ đơn thuốc được sử dụng là: gemcitabin, capecitabin, vinorelbin [4][5][6].