Đánh giá kết quả của vạt lưỡi trong đóng kín lỗ thủng vòm miệng do biến chứng tại bệnh viện Răng Hàm mặt Trung Ương Hà Nội từ 9/2015 đến 9/2017

Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt

Tên hướng dẫn: PGS.TS. LÊ VĂN SƠN

Tên tác giả: NGUYỄN VIỆT THÀNH

Ngày gửi: 22-12-2017 02:31 PM

Cập nhật cuối: 22-12-2017 02:31 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Lỗ thủng vòm miệng là bệnh lý thường gặp trong các bệnh vùng hàm mặt. Nguyên nhân của tổn thương này thường là biến chứng sau phẫu thuật điều trị một số bệnh lý có liên quan tới vùng vòm miệng. Một trong những nguyên nhân hay gặp nhất đó là biến chứng sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng ở bệnh nhân mắc dị tật khe hở môi – vòm miệng bẩm sinh. Ngoài ra gặp 1 số ít do biến chứng sau phẫu thuật cắt nang XHT, hay lỗ thủng để lại sau các chấn thương hàm mặt. Theo các báo cáo khác nhau đã được công bố trên thế giới thì tỷ lệ bệnh nhân còn lỗ thủng vòm miệng sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng có thay đổi từ 8,9% đến 34% [1, 2,]. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương- Hà Nội năm 2010, tỷ lệ biến chứng này là 15,2%[3]. Hầu hết lỗ thủng vòm miệng để lại do biến chứng của phẫu thuật tạo hình vòm miệng thì đầu có vị trí phía trước vòm miệng cứng , đó là ranh giới giữa mảnh trước cành ngang xương hàm trên và vòm miệng thứ phát. Hoặc có vị trí nằm ở ranh giới giữa vòm miệng cứng và vòm miệng mềm.[4, ...]. Những bệnh nhân với thương tổn là  lỗ thủng vòm miệng thường bị thức ăn, đồ uống qua lỗ thủng lên hốc mũi khi ăn uống,  gây sặc và viêm nhiễm đường hô hấp trên. Hơn thế nữa việc có đường thông miệng – mũi dẫn đếnrối loạn phát âm.Vì vậy ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất cũng như chất lượng sống của người bệnh. Phần lớn những lỗ thủng vòm miệng nhỏ được tạo hình đóng kín trở lại bằng những vạt niêm mạc-màng xương  tại chỗ ở vòm miêng, hay vạt xoay – trượt lấy từ má[5, 6, 7]. Tuy nhiên đối với những lỗ thủng vòm miệng lớn, vạt tại chỗ không thể cung cấp đủ khối lượng để che kín lỗ thủng khi tạo hình.Những ý tưởng tìm kiếm một vạt phần mềm nào đó, cung cấp đủ khối lượng mô, lại không quá phức tạp khi thực hiện để tạo hình đóng những lỗ thủng vòm miệng này, đã được các nhà thực hành lâm sàng nghiên cứu và đưa ra cách đây hơn 100 năm. Ban đầu là Eiselsberg và liền sau đó là Lexer phân tích việc sử dụng vạt mô mềm ở vùng tam giác giữa lưỡi và sau răng hàm lớn để tạo hình đóng tổn thương thủng vòm miệng. Nhưng cũng ngay lập tức các tác giả này nhận thấy việc khó khăn khi thực hành kỹ thuật, cũng như sự cung cấp chiều dài của vạt này khá hạn chế[8].  Cho tới  năm 1909, Lexer lần đầu tiên giới thiệu kỹ thuật sử dụng vạt lưỡi để tạo hình lỗ thủng vòm miệng [9].Kể từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu khác nhau trong việc sử dụng vạt lưỡi để tạo hình đóng lỗ thủng vòm miệng.