Đánh giá giá trị tiên lượng của chỉ số NIF ( NEGATIVE ÍNSPIRATORY FORCE ) trong cai thở máy ở bệnh nhân hồi sức Ngoại Khoa

Chuyên ngành: Gây mê hồi sức

Tên hướng dẫn: GS. Nguyễn Thụ - TS. Vũ Hoàng Phương

Tên tác giả: TRẦN VIỆT ĐỨC

Ngày gửi: 13-11-2017 10:50 AM

Cập nhật cuối: 13-11-2017 10:50 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông khí nhân tạo là biện pháp điều trị hữu hiệu và có vai trò quan trọng đặc biệt trong hồi sức các bệnh nhân sau phẫu thuật. Tuy thở máy kéo dài có thể gây ra các tác dụng không mong muốn như tổn thương phổi và ngoài phổi, làm tăng chi phí điều trị và tỉ lệ tử vong trong hồi sức tích cực [1], [2], [3]. Do đó, kết thúc quá trình thở máy sớm ngay khi tình trạng bệnh nhân cho phép là một mục tiêu quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân [3].

Để đưa ra quyết định cai thở máy, người bác sĩ điều trị cần kết hợp nhiều tiêu chuẩn lâm sàng và cận lâm sàng để quyết định xem bệnh nhân có thể bỏ được máy thở và rút được ống nội khí quản hay không. Các tiêu chuẩn thường dùng để đánh giá khả năng thành công của việc bỏ máy thở và rút ống nội khí quản bao gồm: các chỉ số cơ học phổi (như chỉ số thở nhanh nông (Rapid shallow breathing index, RSBI), nhịp thở, thể tích lưu thông thì thở ra (VTe)…), các chỉ số đánh giá khả năng bảo vệ đường thở (số lượng đờm, phản xạ ho, điểm Glasgow…), những đánh giá về huyết động và tưới máu mô [3], [4]. Các chỉ số này cho phép hạn chế các sai lầm khi thực hiện bỏ máy thở và rút ống nội khí quản theo kinh nghiệm. Tuy nhiên các tiêu chuẩn này vẫn chưa thống nhất, đặc biệt là giá trị các chỉ số cơ học phổi. Chỉ số áp lực âm khi hít vào gắng sức (negative inspiratory force - NIF) chính là chỉ số áp lực hít vào tối đa MIP (maximum inspiratory pressure) – là một chỉ số cơ học phổi phản ánh độ mạnh của các cơ hô hấp. Tác giả Chang và MacIntyre đã cho thấy chỉ số NIF< -30cmH2O như một tiêu chuẩn để thực hiện cai thở máy [5], [6]. Santos và cộng sự đã chứng minh NIF là một yếu tố tiên lượng cai máy thở thành công ở các bệnh nhân hồi sức với độ nhạy 93% và độ đặc hiệu 95% [7]. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá vai trò, cũng như so sánh giá trị của chỉ số này với các chỉ số thường dùng khác trong việc tiên lượng thành công bỏ máy thở và rút ống nội khí quản ở các bệnh nhân hồi sức phải thở máy như các chỉ số nhịp thở, RSBI...