Đánh giá đáp ứng pháp đồ của FOLFOX 4 trong điều trị Ung thư đại trực tràng có di căn Gan tại bệnh viện K

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Hồng Thăng

Tên tác giả: PHẠM VĂN HẢO

Ngày gửi: 10-11-2017 09:38 AM

Cập nhật cuối: 10-11-2017 09:38 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế giới. Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu ung thư Quốc Tế IARC (Globocan 2012), trên toàn thế giới mỗi năm cả hai giới có khoảng 1360602 ca mắc mới và 693933 ca tử vong vì UTĐTT[1]. Tại Việt Nam, UTĐTT đứng hàng thứ 04 ở nam và thứ 06 ở nữ về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong; số người mắc UTĐTT là 8768 và số người chết là 5796 ca, trong đó tỷ lệ mắc của cả nam và nữ tương ứng là 11,5 và 9,0/100.000 dân, tỷ lệ nam/ nữ là 1.28[1].

Gan là vị trí di căn thường gặp nhất trong UTĐTT, khoảng 10%-25% người bệnh đã di căn gan kể từ khi xác định kết quả chẩn đoán, 20-25% người bệnh bắt đầu di căn sau khi phẫu thuật. Thời gian sống của bệnh nhân trung bình chỉ có 8 tháng,nếu không được điều trị thích hợp thì tỷ lệ sống được 5 năm là rất thấp[2]. Bệnh có thể phát hiện di căn gan ngay từ khi có chẩn đoán xác định, nhưng cũng có thể xuất hiện sau phẫu thuật, hóa chất.UTĐTT di căn gan nếu được điều trị thích hợp thì vẫn còn tỷ lệ bệnh nhân có thể khỏi được bệnh [2].

Trong UTĐTT các tổn thương di căn gan có thể không thể cắt được khối di căn gan do vị trí khó, đa ổ hoặc do thể trạng bệnh nhân không cho phép tiến hành phẫu thuật. Đây chính là những thách thức trong điều trị ung thư đại trực tràng có di căn gan hiện nay.