Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tầng nguy cơ tắc mạch, chảy máu ở bệnh nhân hội chứng vành cấp có rung Nhĩ

Chuyên ngành: Nôi Tim mạch

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Mạnh Hùng - TS. Trần Song Giang

Tên tác giả: BRAK YOUNG

Ngày gửi: 21-11-2017 02:47 PM

Cập nhật cuối: 21-11-2017 02:47 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng vành cấp (Acute Coronary Syndrome) là thuật ngữ để chỉ những biểu hiện lâm sàng sau cùng của tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ cấp tính. Hội chứng vành cấp (HCVC) bao gồm: đau thắt ngực không ổn định (ĐNKÔĐ), nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên và NMCT có ST chênh lên [1],[2].

Trên thế giới có khoảng 2-2,5 triệu người bị HCVC, trong đó NMCT chiếm khoảng một nửa trong số các trường hợp này [3]. Tại Mỹ, có khoảng 14 triệu người mắc bệnh động mạch vành (ĐMV) và hàng năm có khoảng 1,4 triệu bệnh nhân (BN) nhập viện vì ĐNKÔĐ, NMCT không ST chênh lên [4]. Theo Phạm Việt Tuân, Nguyễn Lân Việt thì tỷ lệ BN mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) nằm điều trị tại Viện Tim mạch quốc gia có khuynh hướng tăng lên rõ rệt: năm 2003, tỷ lệ BTTMCB chỉ là 11,2% thì đến năm 2007 đã tăng lên tới 24% [5].

HCVC  có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm và gây tử vong cho những BN mắc bệnh này. Các biến chứng thường gặp trong HCVC bao gồm: suy tim, các biến chứng cơ học, tắc mạch, viêm màng ngoài tim… và đặc biệt là biến chứng rối loạn nhịp tim (RLNT). Các RLNT trong HCVC có thể gặp bao gồm: ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh xoang, nhịp chậm xoang, nhịp nhanh nhĩ, rung nhĩ (RN),  blốc nhĩ thất… hay thậm chí có thể là  nhịp nhanh thất, rung thất. RN là loại RLNT gặp ở 10-15% các trường hợp HCVC [6]. RN có thể có từ trước hoặc mới xuất hiện khi BN bị HCVC. Cơ chế gây ra RN trong HCVC có thể do: tình trạng thiếu máu cơ tim làm tăng tính tự động của các tế bào cơ nhĩ, làm rối loạn chức năng hệ thần kinh giao cảm, do suy tim, tăng áp lực buồng nhĩ trái hay do nhồi máu thất phải [7],[8].