Đặc điểm hình thái khuôn mặt trẻ em người Việt 7 tuổi trên ảnh chuẩn hóa

Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt

Tên hướng dẫn: TS. NGUYỄN PHÚ THẮNG

Tên tác giả: NGUYỄN VINH QUANG

Ngày gửi: 18-12-2017 03:32 PM

Cập nhật cuối: 18-12-2017 03:32 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Hình thái khuôn mặt có những nét đặc trưng khác nhau cho từng cá nhân, độ tuổi, chủng tộc [1],[2]. Tuy các chủng tộc có các nét đặc trưng khác nhau nhưng khuôn mặt của trẻ em luôn được ưa thích hơn cả. Có sự khác biệt dễ nhận thấy giữa độ tuổi 7 tuổi và tuổi trưởng thành mặc dù trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng không phải là mạnh nhất nhưng lại mang đến sự thay đổi lớn trong khuôn mặt của mỗi cá nhân. Thời điểm 7 tuổi khi bắt đầu bộ răng hỗn hợp có thể coi là mốc để đánh giá sự thay đổi trong giai đoạn phát triển chậm lại đến giai đoạn trưởng thành khi sự tăng trưởng ngừng hẳn. Khi trẻ được 7 tuổi, răng hàm lớn thứ nhất mọc làm thay đổi tầng mặt dưới theo cả ba chiều không gian: chiều đứng với sự mọc răng hàm lớn thứ nhất đến khi chạm răng đối diện, chiều trước sau với sự phát triển của lồi củ xương hàm trên và chiều ngang với sự phát triển xương ổ răng. Cùng với sự phát triển của phức hợp sọ - xương hàm trên và xương hàm dưới sẽ dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ về hình thái và kích thước khuôn mặt của trẻ bắt đầu bộ răng hỗn hợp.       

Khi bắt đầu đi học, các hoạt động về thể chất, nhận thức, tâm lý cùng với sự tăng trưởng của cơ thể dẫn đến sự thay đổi trong hình thái khuôn mặt của trẻ trong giai đoạn này.

Để phân tích về hình thái khuôn mặt, có ba phương pháp chính là: đo trực tiếp trên cơ thể sống, gián tiếp qua ảnh chụp chuẩn hoá và trên phim X-quang từ xa. Trong ba phương pháp trên, phương pháp ảnh chụp chuẩn hoá là phương pháp ngày càng được sử dụng nhiều vì ưu điểm của nó về độ chính xác cũng như tính kinh tế, không xâm lấn. Bằng cách đo đạc các chỉ số trên ảnh chuẩn hoá, ta có thể đưa ra các đặc điểm chung về hình thái khuôn mặt và so sánh sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, giới, chủng tộc. Các đặc điểm hình thái này có giá trị thực tiễn trong quá trình thực hành lâm sàng trong y khoa cũng như các lĩnh vực khác như nhận dạng và thiết kế công nghiệp [1],[2],[3].