Đặc điểm giải phẫu bệnh và một số yếu tố mô học mang ý nghĩa tiên lượng trong ung thư hắc tố da

Chuyên ngành: Giải phẫu bệnh

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN VĂN HƯNG

Tên tác giả: ĐÀO THỊ THÚY HẰNG

Ngày gửi: 09-11-2017 02:32 PM

Cập nhật cuối: 09-11-2017 02:32 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế
giới, bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. Dựa trên tình hình ung thư toàn
cầu năm 2012 (GLOBOCAN 2012), trên thế giới có khoảng 14,1 triệu trường
hợp ung thư và ước tính sẽ tăng lên 24 triệu đến năm 2035 [1].

Ung thư hắc tố da (UTHTD) là bệnh lý ác tính của các tế bào sinh sắc tố melanin ở da [2], [3]. Các tế bào này phân bố chủ yếu ở lớp đáy của thượng bì (90%), ngoài ra còn gặp ở niêm mạc, màng não, võng mạc mắt, sinh dục, đại trực tràng, ống hậu môn,… UTHTD là một bệnh rất ác tính, tiến triển nhanh, di căn sớm [4], [5].

Tỷ lệ mắc ung thư hắc tố da tăng liên tục ở hầu hết các nước trong nhiều thập kỷ qua. Bệnh UTHTD đang ngày càng có xu hướng trở thành một căn bệnh phổ biến ở các nước châu Âu, châu Mỹ, đặc biệt Australia - nước có tỷ lệ mắc bệnh UTHTD cao nhất thế giới [6], tại Mỹ năm 2010 có 68.000 trường hợp mới mắc và 8.700 trường hợp tử vong do căn bệnh này. Đến năm 2012 có 75.000 trường hợp mới mắc, tăng hơn so với năm 2010 là 8%. Tốc độ tăng của căn bệnh này cao hơn tất cả các ung thư khác Tuy nhiên tỷ lệ tử vong tăng ít, dưới 5% mỗi năm, do hầu hết các UTHTD ở các nước này phát được phát hiện từ giai đoạn sớm [7], [8]. Phẫu thuật là phương pháp điều trị khi bệnh ở giai đoạn tại chỗ, tại vùng, các phương pháp điều trị bằng hóa chất, miễn dịch ít hiệu quả, mang tính chất bổ trợ khi bệnh ở giai đoạn muộn. Tiên lượng bệnh khả quan nếu được chẩn đoán sớm và điều trị triệt căn ngay từ đầu.

Ở Việt Nam, UTHTD là bệnh ít gặp, nhưng số bệnh nhân đến khám bệnh và điều trị tại bệnh viện K tăng lên hàng năm [9], [10], [11]. Do những hiểu biết về căn bệnh UTHTD còn hạn chế nên phần nhiều bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn. Nhiều trường hợp đã tự cắt u, đốt nốt ruồi hoặc cắt u đơn thuần tại y tế địa phương mà không có chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học, khi đến bệnh viện K đã xuất hiện tái phát tại chỗ hoặc di căn xa. Nhiều bệnh nhân đã bỏ qua cơ hội có thể điều trị khỏi bệnh ở giai đoạn sớm.