Cơ cấu bệnh tật bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng về KCB của BVĐK tuyến huyện tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 -2014

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Tên hướng dẫn: GS. TS. TRƯƠNG VIỆT DŨNG

Tên tác giả: NGUYỄN DUY NINH

Ngày gửi: 15-11-2017 05:09 PM

Cập nhật cuối: 15-11-2017 05:09 PM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


ĐẶT VẤN ĐỀ

Cơ cấu bệnh tật (CCBT) của một cộng đồng, một quốc gia là sự phản ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của cộng đồng hay quốc gia đó. Việc xác định CCBT để đưa ra bằng chứng giúp cho ngành y tế xây dựng kế hoạch bệnh viện hàng năm cũng như kế hoạch chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên địa bàn một cách toàn diện, đầu tư cho công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh.

CCBT luôn luôn thay đổi, tương ứng với sự biến đổi của khí hậu, điều kiện sống, nền kinh tế, xã hội và một phần là tác động của các dịch vụ y tế. Theo Omran (1997) sự chuyển đổi của CCBT được phân chia thành 4 giai đoạn với sự nổi trội của từng nhóm bệnh: Giai đoạn của dịch bệnh và đói kém; giai đoạn rút lui của các đại dịch; giai đoạn của các bệnh không lây; giai đoạn của các bệnh thoái hoá chậm [1].

Ở Việt Nam, CCBT hiện nay đang trong thời kỳ chuyển đổi dịch tễ học, với gánh nặng bệnh tật kép. Tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm đã giảm, nhưng một số bệnh lây nhiễm đang có nguy cơ quay trở lại; tỷ lệ mắc các bệnh không lây ngày càng gia tăng; tai nạn, chấn thương, ngộ độc tăng nhanh; một số dịch bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện và diễn biến khó lường [2],[3],[4],[5],[6],[7]. Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện của Bộ Y tế, tỷ trọng nhập viện của nhóm các bệnh lây nhiễm chiếm khoảng 55,5% năm 1976 đã giảm xuống 25,2% vào năm 2008. Nhóm các bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng qua các năm, từ 42,6% năm 1976 lên 63,1% năm 2008. Nhóm các bệnh do ngộ độc, chấn thương, tai nạn vẫn tiếp tục duy trì ở tỷ lệ trên 10% [8]. Bên cạnh CCBT, số bệnh nhân và tỷ lệ mắc bệnh qua các thời kỳ cũng là chỉ số nói lên gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng.

        CCBT qua Báo cáo bệnh viện ở mỗi vùng miền có sự khác nhau. Ngay trong một tỉnh, các vùng địa lý- kinh tế khác nhau, CCBT cũng khác nhau trong một điểm thời gian. Về xu thế thay đổi CCBT cũng như số bệnh nhân nhập viện thường thể hiện sự khác biệt sau nhiều năm, vì vậy có thể phân tích số liệu với cách quãng 4-5 năm.

        Phân tích CCBT dựa trên kết quả khám sức khỏe toàn dân có nhiều nhược điểm và không khả thi. Vì vậy, hầu hết các nghiên cứu đều dựa vào thống kê những trường hợp bệnh nhân nằm điều trị nội trú tại BV. Cơ sở của việc sử dụng sổ sách thống kê báo cáo và hồi cứu bệnh án nội trú của BV là “phân tích phần nổi của tảng băng”. Do mỗi khi bị ốm người dân có thể không chữa gì, đến y tế xã và thôn bản, đến BV các tuyến, đến các cơ sở phòng khám hay BV tư nhân và tự mua thuốc về chữa. Tỷ lệ đến khám bệnh tại BV chỉ dao động từ 5% - 10% số trường hợp ốm [9],[10].