Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị Sa Sinh Dục tại trung tâm Sàn Chậu bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

Chuyên ngành: Sản phụ khoa

Tên hướng dẫn: TS. Hồ Sỹ Hùng

Tên tác giả: HOÀNG THỊ THU HUYỀN

Ngày gửi: 18-12-2017 11:00 AM

Cập nhật cuối: 18-12-2017 11:00 AM

Upload bởi: Admin

Dung lượng: 0 Bytes


Vui lòng [Đăng nhập] để tải tài liệu này


  ĐẶT VẤN ĐỀ

 

 Sa sinh dục (SSD) hay còn có thể gọi là sa các cơ quan vùng chậu vì trong nhiều trường hợp không chỉ sa tử cung mà còn sa cả thành trước, thành sau âm đạo; kèm theo sa cả bàng quang, trực tràng. Đây là một bệnh lý khá phổ biến ở phụ nữ, gặp nhiều ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Tuy nhiên bệnh lý này cũng có thể xảy ra ở những phụ nữ trẻ tuổi hoặc đang ở độ tuổi sinh đẻ [1].

Nguyên nhân chủ yếu của SSD là do các yếu tố cơ học, liên quan đến tình trạng suy yếu của hệ thống nâng đỡ đáy chậu, dẫn đến các cơ quan vùng chậu tụt vào âm đạo, xuất hiện khối sa lồi ở vùng âm hộ, tầng sinh môn [2]. Do vậy ta hay gặp SSD ở những người trong độ tuổi 40 – 60, đẻ sớm, đẻ nhiều lần, đẻ dày, có thể không được đỡ đẻ an toàn và đúng kỹ thuật, những người lao động nặng, chế độ dinh dưỡng kém… Tuy nhiên SSD lại là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động và chất lượng cuộc sống của phụ nữ [3]. Nhiều phụ nữ bị mắc căn bệnh này thường không biết chữa ở đâu và tâm lý hay ngại ngùng, giấu bệnh, đặc biệt họ gặp rắc rối trong quan hệ vợ chồng.

Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Việt Nam có khoảng 2 - 10% phụ nữ từ 30 - 60 tuổi mắc bệnh són tiểu, sa sinh dục cụ thể trong độ tuổi hoạt động tình dục khoảng 2%; 8% ở độ tuổi 40 - 50; 8,5% ở độ tuổi 40 - 70 tuổi và cao nhất là độ tuổi 70 - 90 với tỷ lệ là 10% [4], [5]. Trên thế giới, theo nghiên cứu của McLennan và cộng sự (2000) cho thấy tỷ lệ sa tạng vùng chậu là 8,8% trong tổng số 3010 phụ nữ, lấy mẫu ngẫu nhiên tại Nam Úc với tỷ lệ cao nhất trong các phụ nữ trong độ tuổi từ 50 - 70 tuổi [6]. Bên cạnh đó, tỷ lệ này tại phụ nữ Hà Lan lại khá cao với tỷ lệ có triệu chứng “cảm thấy có cái gì lồi ngoài màng trinh” là 21% [7].